Chùa Phật Ân 475 Minnesota Avenue Roseville, MN 55113. Tel: (651) 482-7990 - Web: www.PhatAn.org. Email: chua_phatan@yahoo.com.
THƯ MỤC TÁC GIẢ

11. ÂM NHẠC PHẬT GIÁO

21 Tháng Chín 20169:54 CH(Xem: 1873)
11. ÂM NHẠC PHẬT GIÁO

MỸ THUẬT PHẬT GIÁO

Kiêm Đạt

(ĐH Đông Phương – California – USA)

 

 

11. 

ÂM NHẠC PHẬT GIÁO 

Trong những cách nhìn khác  nhau đã phác thảo những dòng âm nhạc Phật Giáo Việt Nam.Từ trong  kinh điển, giáo  lý, tông phái  Phật Giáo, đã  có những  khác biệt về  âm nhạc, qua từng giai đoạn  khác nhau. Ngay từ khi  đức Phật  tại thế, tăng chúng  tu tập rất tinh  chuyên trong từng thời khắc:  từ việc trì tụng,  khất thực, nghe pháp  hay giáo hoá quần sanh, phần lớn thì giờ dùng  để tọa Thiền.

Trong thời đó, âm nhạc chỉ được  nói đến trong cư sĩ tại  gia, trong quần chúng quamột số lễ hội  mang tính bản địa. Còn về nếp  sống của Tăng giới, thì  âm nhạc  không được  nhắc đến,  được xem  là không mấy thích  dụng.

Nếu thang âm, điệu thức  không thích nghi, dễ gợi lên những tình  cảm bi  lụy, khuấy  động, vọng  niệm. Như  thế dễ gây những chướng ngại  cho sự thăng  hoa của tâm  linh siêu thoát.  Mỗi khi  tăng đoàn hội tụ  để huân tập giáo lý của đức  Phật, chư tăng chỉ tụng theo  ngữ điệu bình thường.  Không có nhạc cụ  đi theo, cũng không có  lối tán, tụng như  ngày nay. Đó chỉ  là những "nhã âm",  như trong Kinh  Di Đà:  "Bạch hạc, Khổng tước,  Oanh Vũ... Ca Lăng  Tần Đà, cọng mạng chi điểu, thị  chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hoà nhã âm".

Trong bộ kinh "Tỳ Ni Mẫu" có kể  lại chuyện một Tỳ kheo nọ rất say mê âm nhạc, cũng thường hay tấu những khúc nhạc du dương khi tụng  những  lời Phật  dạy, mà  nhiều người  không dám.  Khi nghe  được chuyện nầy, đức Phật liều quở trách và không cho vị ấy sử dụng âm nhạc nữa...

 Những chuyện tương tự  không hiếm. Như thế,  âm nhạc không chỉ gây nhiễu  loạn tâm hồn người, mà ngay cả  đức Ma ha Ca  Diếp  cũng bất  giác "rung  chân, rung  thân", nhịp  theo từng âm điệu, khi  nghe 500 vị tiên  nhân đang vui đùa  ca múa. Nhưng đối  với hàng  cư sĩ tại  gia, sự cấm  đoán nầy không  được đề ra. Đức   Phật cho phép họ được ca múa, gãy đàn, thổi sáo. Miễn là những âm  thanh, âm điệu nầy để tỏ lòng thành kính, tán thán công đức, cúng dường Tam Bảo. Điều khó khăn là ai có thể sáng tác được những thể  điệu đó.

Tại miền  Bắc Ấn Độ trong thời đó, Phật  tử trong lễ hội thường ca hát,  diễn xướng điệu "Raga" (Cung  kính). Theo các nhà  âm nhạc học  thì đây là một làn  điệu êm ái, nhẹ nhàng.  Nội dung  thường tán thán công đức vô lượng chư Phật. Từ đó âm nhạc PG cũng  hình thành. Đức  Phật cũng thường dạy các đệ  tử của ngài về nguy  hại của sự tham dục, luyến ái. Đó là nguyên nhân của sinh tử luân hồi.

 Chưa  diệt tham ái,  vẫn phải chìm  đắm trong đau  khổ. Ngài  thường dạy đệ tử xuất gia: Phải  nhiếp tâm tu trì, không đắm chìm thế gian pháp.  Thay vì tìm kiếm niềm vui  trong âm nhạc, nên tìm  về an lạc trong thể tánh thanh tịnh. Cảnh trí Thiền thanh hóa tâm niệm.  Thành thử  hầu hết giới luật  của những người xuất  gia, nam cũng  như nữ, kể cả những ngày Bát  Quan Trai của người Phật tử đều ghi  điều răn cấm các giới tử không được biểu diễn nhạc hay nghe nhạc. 

Điều nầy ghi rõ trong Phạm Võng  Bồ Tát Giới: "Không được đi xem  hát, nghe  nhạc, chơi cờ,  đánh bạc..." Nhiều  kinh điển khác  về  Luật Tạng cũng  đề cập đến điều cấm nầy.  Điều nầy cho thấy: Ngay  cả hàng Bồ tát mới phát tâm cũng cần phải giữ cấm giới về âm nhạc  (xướng lên  hay thưởng thức). Còn  đối với các bậc  Bồ tát thượng  thừa trở lên thì âm nhạc là một trong những phương tiện cần thiết  để độ pháp quần sanh.

  Trong "Căn Bản Tạp sự" có nói: "Đức Phật vì muốn độ nhạc thần Càn  Thát Bá Vương Thiện Ái, đã lên trời tấu đàn không hầu lưu ly ngàn dây".  Những dẫn  giải trên đây  cho thấy: Âm  nhạc cũng là  phương tiện   giáo hoá trong trường hợp người sử dụng phải có căn bản tu tập và  giải thoát cao thâm. Trong một số trường hợp, âm nhạc cũng có thể sử dụng để có thể dẫn dắt về chánh pháp.  Sau khi đức Phật nhập diệt, qua những lần kết tập kinh điển, Phật  Giáo phân chia Đại Thừa và Tiểu Thừa, thì con đường hoằng pháp có  những thay đổi lớn. Đại Thừa phát triển mạnh, đã tạo nên một sinh  khí  trong việc  truyền đạo;  đồng thời  một sự  thay đổi lớn lao  trong tư  tưởng triết học và  nhận thức quan mới  trong Phật Giáo đồ.

 Với tinh thần nhập thế tích  cực, hũu hiệu. Tinh thần nhập tế  đó đã  khai triển nhiều  hình thức truyền  đạo trong đó  có cả âm  nhạc.  Cho đến khi Phật Giáo truyền bá  sang Trung Hoa, thì âm nhạc Phật Giáo gặp được đất ươm trồng thích hợp.

Trong nền văn học dân gian Trung Hoa, Kinh  Thi vốn được phát triển. Mặc  dù Khổng Tử thường răn dạy:  "Thi tam bách  thiên, nhất  ngôn  dĩ tế chi:  Tư vô tà"  (Kinh Thi  có 300 chương, một  lời bao trùm lên  tất cả: suy nghĩ  không tà vạy).

 Âm nhạc Phật Giáo cũng trong  xu thế đó. Theo nhà nhạc học nổi  tiếng Tế Văn Đình (Trung Quốc  văn hoá ngôn) thì "âm  nhạc Phật  Giáo Trung Quốc đã  khai sinh cách đây  1,600 năm". Đời Đường có  nhạc khúc Lăng Tiêu,  đời Tống có nhạc  khúa Điệp Luyến  Hoa, đều  là những ca  khúc Phật Giáo  lừng danh trong  quảng đại  quần chúng.Kinh  điển Đại  Thừa cũng  từng viết  về ảnh  hưởng âm nhạc (chân chính).

Trong bộ  "Đại Trí Độ Luận" có dẫn  lời của ngài Long Thọ"Bồ Tát muốn thanh tịnh cõi Phật  thì phải dùng âm nhạc hay; muốn  cho chúng sanh trong quốc độ nghe được nhạc hay thì tâm của họ sẽ  được như  nhuyễn. Khi tâm đã  nhu nhuyễn thì việc  hoá độ cũng dễ  dàng.  Như vậy,  nên hãy  dùng âm  nhạc để  cúng dường chư Phật". 

 Thành thử, trong mỗi chuỗi lý luận liên hợp, Đại Thừa Phật Giáo đã nhấn  mạnh đến hai điều: một là phải có "nhạc hay"; hai là ảnh hưởng âm   nhạc Phật  Giáo trong công  cuộc giáo hóa  không nhỏ. Nhiều  kinh  sách cũng đã khai triển lý luận  đó. Trong kinh A Di Đà, có nhiều  đoạn viết về "cảnh giới nhiều âm sắc vốn dĩ thanh hóa cuộc sống".   Nhà nghiên cứu nhạc Phật, tiến sĩ  Cao Nhã Lợi cho rằng "Quan niệm của Phật  Giáo Đại Thừa  trong việc sử  dụng "âm nhạc  hay" trong  truyền bá rất  phóng khoáng. Thay vì trốn tránh  âm nhạc một cáchtiêu cực, thì  hãy sử dụng chúng một cách  tích cực, cởi mở hơn". 

 Do quan niệm đó, âm nhạc Phật Giáo Trung Hoa phát triển nhanh, có giá trị và được trình tấu sâu  rộng, trong nghi lễ cũng như trong  diễn xướng đại  chúng.  Bộ sưu tập nhạc Phật  Giáo Trung Quốc trong   13 thế kỷ nay lên đến 50 quyển.  Tuy nhiên, trong sáng tác cũng như trong thể hiện, nhạc Phật Giáo  được phân  chia làm hai thể  loại:

Loại thứ nhất  là nhạc lễ dùng  trong cúng tế; loại thứ hai là nhạc Phật Giáo trong truyền bá dân gian.  Về lễ nhạc  Phật Giáo Việt Nam cũng được  khuôn định rõ rệt. Theo nghiên cứu của Trần Văn  Khê thì: Nhạc Phật Giáo Việt Nam (loại lễ nhạc)  bắt nguồn từ âm nhạc dân  tộc, mang hơi điệu nhạc  dân gian, nhạc  thính phòng, nhạc sân khấu và  nhạc lễ trong cung  đình. 

Cũng trong  thiên nghiên  cứu trên  thì cách "tán", "tụng"   trong lễ nhạc Phật Giáo được phân  chia ra làm 3 trường phái khác  nhau: Về Phật Giáo Bắc Tông, hay  Đại Thừa gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật  Bản và Việt Nam, kinh văn  tiếng Phạn để nguyên  tiếng Phạn (Sanskrit), phiên âm ra tiếng Trung Quốc đọc theo cách  phát âm  của Trung Quốc, thì  gần giống âm tiếng  Phạn, nhưng khi đọc chữ phiên âm theo cách đọc của mỗi nước Triều Tiên, Nhật Bản,  Việt Nam thì rất xa âm của tiếng Phạn (chẳng hạn như bài chú Vãn   Sanh: Nam mô  A di đa bà dạ...)

 Có khi tiếng Phạn dịch  ra tiếngTrung Quốc, viết  lại bằng chữ Hán, như "A  Di Đà kinh", "Bát Nhã Tâm Kinh".   Về Phật Giáo Nam Tông,  hay Tiểu Thừa gồm các nước Sri  Lanka, Thái Lan,  Kampuchia, Lào: kinh chép bằng  tiếng Pali, đọc  theo âm Pali, không dịch ra tiếng  mỗi nước. Mật Tông ở Tây Tạng,  Mông Cổ kim gồm những "mật ngôn" đọc theo một giọng thâm trầm.   Mặc dù đạo Phật thành lập tại Ấn Độ, mặc dù một số kinh sách được  chuyển  từ Trung  Quốc sang  Việt Nam,  tuy nhiên  nét nhạc trong những bài  tụng, bài tán  trong lễ nhạc  Việt Nam không  chịu ảnh  hưởng của Ấn Độ hay Trung Quốc. 

Ngoài ra, nét nhạc của những bài  tụng, bài tán cũng thay đổi  theo từng miền, từng vùng khác nhau.  Giọng tụng  tác miền Bắc khác  với giọng tụng tán  của miền Trung  hay miền Nam, mặc dù cùng một  thứ chữ. Thang âm và điệu thức của  những bài tụng bài tán rất gần  với thang âm, điệu thức của những  bài hát ru, những điệu dân ca trong từng vùng.

Các nước Đông Á đều có tụng và tán. "Tụng" là đọc lớn, lớn hơn cả  loại "đọc" và "niệm". "Tán" là ca ngợi, khen tặng. Tiếng "tán" có thể lớn hơn tiếng "tụng". Thang âm  của một bài tụng có thể là tam  cung, tứ  cung, ngũ cung. Thang  âm của bài tán  đều là ngũ cung.   Trong bài tụng, nhịp đều trường canh, mỗi chữ trùng với tiếng mõ;  trong bài tán, nhịp phức tạp  hơn. Chữ quan trọng trong câu kinh,   kệ thường được xướng theo nhịp  ngoại. Tang, mõ đánh theo chu kỳ.  Trống đánh theo  đối điểm (contrepoint). Tán có  3 loại: tán rơi, tán xắp, tán  trạo. Mỗi loại tán theo chu  kỳ khác nhau.

Trong lễ nhạc Phật Giáo  VN, ngoài 2 lối tụng  và tán như đã nói,  lại còn  có: lối  niệm, lối đọc, lối  hô, lối bạch, lối  xướng, lối thỉnh,  niệm Phật, niệm hương, đọc sớ,  hộ kệ, tụng kinh, xướng danh hiệu  Phật, thỉnh  kinh... Mỗi loại  đều có thang  âm, điệu thức  khác  nhau. Nhịp chuông trống cũng khác. 

Những lễ thường không có nhạc;chỉ những lễ lớn, khí nhạc mới được dùng đến.Mở đầu  của buổi lễ thì  gióng lên chuông trống  Bát Nhã. Về sau,   chuông trống đánh theo số chữ trong bài Kệ. Khi đánh theo Bát Nhã  Hội thì đánh 3 lần, 3 tiếng  trống, 1 tiếng chuông. Khi đánh theo  Thỉnh Phật  Thượng Đường thì 4  tiếng trống, 1 tiếng  chuông. Khi  đánh theo Đại  Chúng Đồng Văn thì 4 tiếng  trống, 1 tiếng chuông.  Khi đánh theo  Bát Nhã Âm thì 3 tiếng  trống, 1 tiếng chuông. Khi đánh theo Phổ Nguyện Pháp Giới thì 4 tiếng trống, 1 tiếng chuông.  Khi đánh  theo Đẳng Hữu Tình  thì 3 tiếng trống,  1 tiếng chuông.Khi đánh theo Nhập Bát Nhã thì 3 tiếng trống, 1 tiếng chuông. Khiđánh theo  Ba La Mật Môn  thì 4 tiếng trống,  1 tiếng chuông. Đến  phần cuối cùng thì gióng lên một hồi chiêng trống.   

Xem như vậy,  thang âm, điệu thức và nét  nhạc trong âm nhạc Phật Giáo Việt Nam rất phong phú và  tế nhị. Hiện nay, trong cách tụngtán đã có xu  hướng tiến dần đến giản dị hoá.  Nhạc Phật Giáo củacác nước Nhật Bản, Trung Quốc,  Triều Tiên được truyền tụng trong các  chùa và  ghi chép  thành sách,  phổ biến  sâu rộng, để tránh   những sai sót.

Tại Việt Nam, chưa có tài liệu in ấn về những cách  tụng, cách  tán từng thể loại  khác nhau. Thậm chí  cả nhạc trình   diễn Phật Giáo cũng vậy.

Trong việc hội  nhập Phật Giáo tại các nước  Tây Phương hiện nay, âm nhạc là phương tiện rất hữu  hiệu. Nhiều nước đã tiến hành khả  quan. Chẳng  hạn như các buổi  tổ chức trình diễn  nhạc Phật Giáo  của Phật  Quang Sơn (Đài Loan). Những  buổi biểu diễn âm  nhạc của Phật  Quang Sơn  cũng như nhạc giao  hưởng của những tổ  chức Phật Giáo  Đài Loan đã  thu hút đông đảo khán  thính giả ái mộ. Họ  cũng cho  phát hành những cuốn Album về nhạc  Phật Giáo như "Chú Đại Bi" và  "Lục  Độ Mẫu  Tâm Chú".

 Phong cách  biểu diễn  trên sân khấu lớn không  thua kém  gì những  buổi biểu  diễn của  các danh ca khác.  Những chương  trình trình diễn  như vậy đang  được tổ chức  ở cácnước Á Châu và trong tương lai sẽ sang Hoa Kỳ, Châu Âu.   Tuy nhiên, nhiều  vị cao tăng Đài Loan tỏ  ra lo ngại cách truyền   bá nầy. Họ nghĩ đến xu hướng  "thế tục hoá" của âm nhạc Phật Giáo  như thế  có gây nguy hại  chăng? Trong khi đó,  nhiều vị lãnh đạo  khác lại muốn cách truyền đạo mang  một tinh thần cởi mở, phóng khoáng hơn, không nên quá thiên về tình cảm tôn giáo.

 Điều căn bản là có thể mang lại cho khán giả tâm thần an lạc, thanh thản là được. Có  nhiều nhạc sĩ hưởng ứng chương  trình nầy. Giới trẻ phương Tây ít đến chùa  hành lễ, tuy nhiên  họ lại thích phong  cách trình diễn nhạc PG mới mẻ, gần gủi, linh  hoạt. Do tác dụng nầy, các nhạc sĩ sáng tác  thể điệu PG lại  càng thận trọng hơn.  Họ cũng cần nghĩ đến những  ảnh hưởng nguy hại  của những sáng tác  phẩm thiếu văn hóa, kích thích  quá lố, biểu diễn sỗ sàng,  tuyên truyền hạ cấp. Như thế  đã không tác  dụng gì, lại  còn mang ảnh  hưởng xấu. Suy  nghĩ nầy hiện đang là đề tài thảo luận, tham bác.

 

----o0o---