Chùa Phật Ân 475 Minnesota Avenue Roseville, MN 55113. Tel: (651) 482-7990 - Web: www.PhatAn.org. Email: chua_phatan@yahoo.com.

Phật pháp vấn đáp

28 Tháng Năm 20166:27 SA(Xem: 1227)
Phật pháp vấn đáp
Lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam giải đáp
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
(theo bản in của Lý Bỉnh Nam Lão Cư Sĩ Toàn Tập Biên Tập Ủy Viên Hội, Đài Loan, 2007)
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang
 

* Hỏi: Do nguyên nhân gì mà Phật giáo phải chia ra nhiều tông phái? Từ xưa tới nay đã chia thành mấy tông phái? (Trang Khánh Hiền hỏi)

 

      Đáp: Phật pháp vô lượng, môn loại rất nhiều, như trên trời có mặt trời, mặt trăng, gió, mây, giống như đất có núi, biển, cỏ cây. Con người không có thiên tư tuyệt thế, làm sao có thể học khắp, thông hiểu trọn khắp; cho nên bất đắc dĩ phải có hành động chọn theo một loại hòng chuyên nhất, giống như học vấn thế gian phải lập ra chuyên khoa. Vì thế, tông phái xuất hiện. Đây là phương tiện cầu học, chứ thật sự chẳng phải là tạo lập môn hộ, kéo bè phái những người có cùng ý kiến với mình để chèn ép kẻ khác chí hướng! Thời kỳ Mạt Pháp, đấu tranh kiên cố, có lắm thiên kiến[1], thật đáng cảm khái! Thiên Trúc, Trung Hoa, Nhật Bản, Phật pháp đều thịnh, các tông phái khác nhau, ngay tại Trung Hoa xưa và nay cũng khác biệt. Trước kia, còn có nhiều danh xưng [tông phái] như Niết Bàn, Địa Luận v.v... nay chỉ thường nghe nói tới mười tông, nhưng thật ra [hai tông] Câu Xá và Thành Thật cũng ít ai hoằng dương!

 

      * Hỏi: “Pháp Thân của Phật trọn khắp hư không” là nói về Pháp Thân của đức Thế Tôn, hay là Pháp Thân của mỗi vị trong vô lượng vô biên chư Phật đều là trọn khắp hư không? Nếu đều trọn khắp hư không thì chẳng biết xếp đặt theo cách nào? Người thuộc trình độ nào sẽ có thể thấy được? (Dư Bình hỏi)

 

      Đáp: Phật Phật đạo đồng, Pháp Thân đều trọn khắp. Nếu hoài nghi, tôi nêu một thí dụ của cổ nhân. Ánh sáng của một ngọn đèn, soi sáng cả phòng; ánh sáng của hai ngọn, ba ngọn đèn, hoặc nhiều hơn nữa, cùng chiếu khắp phòng, chẳng trở ngại nhau. Lại thêm trăm ngàn ngọn đèn, cũng đều giống như thế! Hiểu rõ thí dụ này, mối nghi sẽ có thể cởi gỡ! Pháp Thân vốn vô tướng, người minh tâm kiến tánh sẽ có thể trông thấy.

 

      * Hỏi: Sau khi đức Phật diệt độ, [Phật pháp] chia ra ba thời kỳ Chánh Pháp, Tượng Pháp, Mạt Pháp, vậy thì trước khi đức Phật giáng sanh thuộc vào thời kỳ nào, trong khi ấy có Phật pháp hay chăng? (Dư Bình hỏi)

 

      Đáp: Sau thời Mạt Pháp là Diệt Pháp. Luận về thời kỳ, sẽ có Chánh, Mạt, Diệt, hết một vòng lại quay về từ đầu. Luận về phía Phật thì quá khứ có vô lượng chư Phật, lại còn có vị lai vô lượng chư Phật, phối hợp với từng thời kỳ mà xuất hiện hay diệt độ, liên tục không ngớt. Đức Phật được nói tới trong lời hỏi chính là Thích Ca Thế Tôn. Trước khi đức Thích Tôn giáng sanh, thì là Ca Diếp Như Lai, [lúc ấy] thuộc vào thời kỳ Diệt Pháp của Ca Diếp Phật.

 

      * Hỏi: Mọi sự đều là rỗng không, từ xưa đã là như vậy, nếu nói toạc ra, há chẳng phải là con người sẽ đánh mất chí tiến thủ, thế giới còn mong chi phồn vinh? Phật giáo chuyên đề xướng Không, giống như chủ nghĩa tiêu cực, sợ chẳng hợp điều kiện sanh tồn của quốc gia hiện đại, có nên thay đổi hay không? (Ngô Tài Thầm hỏi)

 

      Đáp: “Muôn sự rỗng không” là lời nói thông tục lưu hành trong làng quê, chẳng phải là Không theo giáo nghĩa nhà Phật. Cố nhiên Phật học nghiên cứu Không, nhưng nào biết [nhà Phật] còn nói Có. Nghĩa của Không như [nhà Phật] đã nói khác xa cách hiểu sai lầm về Có và Không của thế tục, xin chớ hiểu lầm! Còn như tích cực hay tiêu cực, tiến thủ hay suy đồi, sẽ phụ thuộc trí huệ, thiện ác của con người. Kẻ trí gặp được [giáo nghĩa] Ngã Không và Pháp Không, sẽ chịu tích cực hy sinh vì đại chúng, chẳng tiếc đầu, mắt, não, tủy, biết có nhân sẽ có quả, chịu vì đạo mà tinh tấn tu trì, chẳng hạn cuộc bởi không gian hay thời gian, thế giới nhờ vào đấy càng trang nghiêm. Kẻ ngu lầm tưởng Ngoan Không, nên đối với sự tấn đức, tu nghiệp, ngỡ là viễn vông, luôn giữ lấy sự tiêu cực. Do mê nơi giả hữu, nên đối với tiếng nói, sắc tướng, vật chất, lợi lộc, chết chìm trong ấy, đành lòng phế bỏ, cho nên phong tục điên đảo. Nghĩa Có và Không giống như mưa dầm, người trí [nghe hiểu nghĩa ấy] giống như cây cối xum xuê, kẻ ngu như gỗ mục! Cùng một trận mưa dầm, cây xum xuê gặp mưa càng thêm xum xuê, gỗ mục gặp mưa càng thêm mục nát, cơ duyên tốt hay xấu vẫn tùy thuộc từng người! Thay đổi tốt lành chính là thay đổi lòng người mê thành ngộ; đại đạo mà có thể sửa đổi, sẽ chẳng phải là đạo!

      * Hỏi: Cố nhiên Thiên Chúa giáo không phải là tôn giáo của Trung Quốc, Phật giáo cũng từ Ấn Độ truyền vào, sao chẳng đề xướng tôn giáo của chính Trung Quốc, há chẳng tránh khỏi nhiều điều tranh luận ư? (Ngô Tài Thầm hỏi)

 

      Đáp: Đối với một chữ Giáo, cần phải nói rõ giới tuyến. Có giáo thuộc về lễ giáo, có giáo thuộc về tôn giáo, Phật giáo thuộc phạm vi thứ hai. Hãy nên biết: Giáo là biểu hiện của đạo. Đạo bao trùm trời đất, há có trong hay ngoài! Vào thời thượng cổ, đất đai mới mở mang, cương vực nhỏ hẹp. Dẫu là Kinh, Sở, Ngô, Việt[2], vẫn chê là Di (mọi rợ). Cho đến về sau vẫn còn nói: “Vua Thuấn sanh ở đất Chư Phùng, là người Đông Di. Văn Vương sanh ở Kỳ Châu, là người Tây Di”[3] v.v... Thuở ấy, chẳng thấy điều ấy là lạ. Đến nay giao thông và văn hóa [phát triển, cả thế giới] như ở ngay trong sân, trong cửa, tầm mắt phải rộng mở, sao lại câu nệ để tự giam mình trong giới hạn cổ lỗ. Hơn nữa, Phật lấy một đại thiên (tam thiên đại thiên thế gian) làm khu vực giáo hóa, giống như ánh nắng mặt trời soi chiếu khắp đại địa, chúng ta há nên tự lui về chỗ chẳng có ánh sáng mặt trời chiếu tới ư? Dẫu muốn tự vạch giới hạn, hãy thử nghĩ: Trong các tôn giáo ở Trung Quốc, [một tôn giáo] có người sáng lập, có kinh điển, tụ tập tín đồ truyền thụ kinh điển, chẳng dựa dẫm [tôn giáo khác], chẳng xen tạp; khảo sát lịch sử, giảo duyệt điển tịch, [đều thấy là] chánh đáng chứ chẳng phải là quỷ quyệt, chân chứ chẳng ngụy, thật sự là giáo nào vậy?

 

      * Hỏi: Kẻ ngu này các giáo đều tin, trọn chẳng có ác ý, gia đình lại nhiều đời tin Phật giáo, bất quá thấy các giáo công kích lẫn nhau, lại bàn đến Thiên Đường xa xôi, chẳng nói về hiện thực, cảm thấy tất yếu là phải thay đổi cho tốt đẹp hơn. Nếu không, lâu ngày chầy tháng, ắt sẽ bị xã hội đào thải! (Ngô Tài Thầm hỏi)

 

      Đáp: Tiên sinh có ý tốt lành, nhưng đối với nội dung Phật giáo còn thiếu hiểu biết. Nay tôi kính cẩn trình bày đại lược cùng Ngài, xin hãy rộng lòng chú ý. Giáo nghĩa Phật giáo chuộng nhẫn nhục, chuộng không tranh chấp. Hiện thời tuy có đôi chút tranh biện, nhưng cũng là phản ứng bất đắc dĩ nhằm hộ trì giáo pháp, trọn chẳng phải là hành vi tự động công kích người khác. Hơn nữa, Phật giáo nói tới Thiên Đường chính là lời phương tiện trong giáo pháp Tiểu Thừa. Nghĩa rốt ráo là Vô Trụ Niết Bàn, chớ nên hiểu lầm! Muốn mong đạt cái quả trong Phật giáo, trước hết phải chú trọng nhân địa. Lục độ, vạn hạnh đều là hiện thực. Chuyện sửa đổi [giáo nghĩa] cho tốt đẹp hơn chỉ có thể áp dụng cho những học giả hoặc những kẻ chẳng y giáo phụng hành. Hãy tự nên sửa đổi tác phong của mỗi cá nhân, [điều này] có cùng một ý nghĩa với lời đáp trong phần trước.

 

      * Hỏi: Vì tổ tiên làm Phật sự, nếu [tổ tiên đọa] trong quỷ đạo, sẽ có thể lìa khổ được vui, kinh Phật chẳng nói là sau khi chết trong vòng bốn mươi chín ngày con người sẽ đầu thai vào nơi khác ư? Nếu [tổ tiên đã] được sanh lên trời hay sanh trong nhân đạo thì siêu độ có tác dụng gì? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

      Đáp: Các cõi trời thuộc Dục Giới có chiến tranh với Tu La, ngũ suy, tam tai, loài người có tám khổ, các nạn. Vì quyến thuộc đời trước làm Phật sự thì những điều ấy (chiến tranh với Tu La, ngũ suy, tam tai v.v...) đều có thể tiêu giảm, lại còn tăng thêm phước báo.

 

      * Hỏi: Đệ tử Phật sống trong gia đình theo đa thần giáo, vâng lệnh cha mẹ, làm những chuyện trái với giáo lý, như được cha mẹ sai đến lễ bái thần thánh ngoại đạo, hoặc đốt giấy vàng bạc, dâng cúng [thần thánh] bằng các con vật. Đã khuyên dụ, nhưng cha mẹ không tiếp nhận thì phải nên đối xử như thế nào? (Trần Hiệp Hòa hỏi)

 

      Đáp: Đối với điều này, ắt phải luôn chú tâm, dùng thân hành, miệng khuyên cha mẹ, nước chảy đá mòn, sẽ tự có cơ duyên chín muồi, chẳng thể dùng cách thúc ép cứng rắn mà hòng thành công được! Hiện thời, cha mẹ chưa có chánh tín, không ngại dùng phương tiện thiện xảo, thuận theo tâm họ, đừng nên chống đối, hãy coi những thần thánh tạp nhạp ấy như bạn bè của cha mẹ, hướng về họ cúng lễ, coi như giữ thể diện cho cha mẹ mà kính trọng khách, cũng chẳng phải là không được. Chỉ có điều chớ nên tín phụng [quỷ thần] vì trái nghịch lời răn dạy về quy y!

 

      * Hỏi: Chư Phật, Bồ Tát thương xót chúng sanh, ứng hóa trong thế gian, xiển dương giáo pháp lợi sanh, nhưng vì sao chẳng trường thọ mãi mãi để làm nhiều chuyện hoằng hóa hơn? Lại nữa, chư Phật, Bồ Tát ứng hóa trong nhân gian, vì sao thường thiên vị tại Á Đông, mà chẳng đến các nước Âu Mỹ, khiến cho trong suốt hai ngàn năm qua, tôn giáo, tín ngưỡng của dân chúng các nước Âu Tây đều thuộc trong vòng vây của đạo Gia Tô hay Hồi Giáo? (Trần Hiệp Hòa hỏi)

 

      Đáp: “Nhân tình trọng nan nhi khinh dị, yếm cố nhi hỷ tân” (Con người quen thói coi trọng những điều khó khăn, khinh thường những gì dễ dàng, chán cái cũ, chuộng cái mới). Ngạn ngữ cũng nói: “Học Phật nhất niên, Phật tại nhãn tiền, nhị niên Phật tại thanh thiên, tam niên Phật hóa vân yên” (Học Phật một năm, Phật ở ngay trước mặt, học hai năm, Phật ở giữa trời, học ba năm, Phật thành mây khói). Nếu Phật trụ mãi nơi đời, chúng sanh đâm ra càng thêm biếng nhác, một trăm năm và tám mươi năm chẳng sai khác lắm, cũng chẳng thể gọi là “thọ vĩnh viễn”, đây là điều thứ nhất. Trên địa cầu này, dùng kiếp này để luận thì phương Đông được khai hóa sớm nhất. Lại do khu vực địa lý cùng nằm ở Đông Á nên tự nhiên sẽ tiếp thu trước hết. Đó gọi là “cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt” (lâu đài gần nước được trăng soi trước). Lại còn do mỗi chuyện đều có nhân duyên, chiêu cảm, như bao nhiêu người trong thành Xá Vệ, có người kính phụng, có kẻ nghe Phật pháp, mà cũng có kẻ chẳng hề thấy nghe. Đấy là điều thứ hai.

 

      * Hỏi: Văn tự chính là cội nguồn văn minh; vì thế, hễ người nào dùng đến văn tự, đều phải nên kính tiếc giấy có viết [hay in] chữ, nhằm báo đáp ân đức của văn tự thì mới là đúng. Nhưng gần đây cũng có kẻ học Phật chẳng chịu kính tiếc giấy chữ, sử dụng giấy có chữ bừa bãi, làm ô uế lung tung, vứt bỏ bừa bãi, chẳng biết đối với sự học Phật tu dưỡng có bị trở ngại hay không? (Lâm Đắc Mô hỏi)

 

      Đáp: Văn tự mở mang trí huệ, tăng đạo đức, mọi chuyện nhờ vào nó mà tiến hóa, công ấy hết sức to lớn. Gom lại thành từ ngữ, có thể biểu thị danh tự của thánh hiền, hoặc giáo huấn, khuôn mẫu của các Ngài; tách ra thì cũng có thể coi như một phần danh hiệu và giáo huấn của thánh hiền. Cổ tục Trung Quốc chủ trương kính trọng, nên đối với giấy có chữ chẳng nỡ giẫm đạp, làm bẩn, nay phong tục ấy nhạt dần, lòng kính trọng đối với giấy chữ suy giảm, đối với cổ thánh tiên hiền còn mang lòng miệt thị, huống là giấy có chữ ư! Hiện thời, phong khí [cả xã hội] đã là như vậy, chẳng phải chỉ riêng người học Phật là như thế!

 

      * Hỏi: Hai giáo Nho và Đạo là tôn giáo và văn hóa cố hữu của Trung Quốc, là căn nguyên tinh thần dân tộc và đạo đức của quốc dân. Vì thế, ở Trung Quốc, Nho giáo như Tiểu Học, Đạo giáo như Trung Học, Phật giáo như Đại Học. Người có tư cách thượng đẳng sẽ có thể tiến nhập Trung Học; nếu chỉ là kẻ tư cách hạ đẳng, sẽ chỉ tiến nhập Tiểu Học. Nhưng dù lạy tiên, hay lạy thần, mà nếu đối với đạo làm người vẫn chẳng trái nghịch đạo đức, chẳng vi phạm pháp luật, sẽ có thể dưỡng thành người có nhân cách đạo đức cao thượng, cũng là một quốc dân cao quý. Nếu trái nghịch đạo đức, vi phạm pháp luật, bị pháp luật trừng phạt, đến nỗi phá hoại quy cách của nhân loại, bèn thuộc vào loại mê tín, tà tín, đáng nên bài xích. Gần đây, đối với những kẻ thờ thần, thờ tiên, có lắm Phật giáo đồ bài xích họ là bàng môn ngoại đạo, tà môn ngoại giáo, chẳng biết có trái nghịch tinh thần dân tộc và căn bản đạo đức của quốc dân hay chăng? Điều này có quan hệ trọng đại đối với tinh thần dân tộc và đạo đức quốc dân vậy! (Lâm Đắc Mô hỏi)

 

      Đáp: Có hai cách giải thích chữ “ngoại”:

1. Một là trong Phật pháp, giả danh tâm pháp là nội, chẳng phải tâm pháp là ngoại. Phàm những ai chẳng tu tâm pháp đều nhất loại gọi là ngoại đạo, ý nói: Chỉ biết đến ngoại pháp.

2. Hai là đạo ở ngoài bổn giáo. Đây là đối với các giáo ở ngoài giáo của chính mình, đều có thể gọi là ngoại đạo, chứ thật sự chẳng phải là lời lẽ chửi người. Bàng và tà khác nhau. Bàng là chẳng chánh, tà là chẳng đoan nghiêm. Ví dụ như mê tín rêu rao “Thích Ca thoái vị, Di Lặc thay thế nắm quyền chưởng quản thiên bàn, Ngọc Hoàng đã đổi thành Quan Đế, vị Phật nào đó giáng lâm” v.v... Thậm chí cắt xén kinh Phật, xen tạp lời lẽ tà ngụy, lừa mình, dối người, vờ vĩnh xưng là “Tam Giáo hợp nhất”. Phàm những thứ giống như vậy, phần lớn đều là chi phái của các môn Hoàng Cân[4], Bạch Liên[5], Thiên Lý, Bát Quái[6] v.v... vô tri làm càn, hại huệ mạng của người khác, chẳng dứt tà, đề cao đạo chánh, cho nên bài xích [những thứ tà vạy ấy]! Nếu là Nho giáo thuần chánh, có bao giờ tín đồ nhà Phật chẳng hoàn toàn tôn trọng. Còn như Đạo giáo, nay đã thành Thiên Sư Giáo của Trương Đạo Lăng, chẳng còn là Hoàng Lão thời Hán. Nghe nói tiên sinh là người có học, khảo sát lịch sử tường tận, ắt sẽ tự biết nguyên do. Nếu nói tới tinh thần và đạo đức dân tộc, chỉ Nho giáo là có. Những đạo khác đều là tạp giáo rối tung, rối mù, làm sao có thể nói là [tinh thần và đạo đức dân tộc] cho được!

 

      * Hỏi: Gạo, thóc, cháo, cơm là căn bản để nuôi dưỡng tánh mạng con người. Người học Phật do chẳng nuôi dưỡng gia súc, chẳng chịu đem nước vo gạo, cháo ăn thừa cho người khác nuôi dưỡng gia súc, sợ giúp cho kẻ khác nuôi gia súc mập mạnh, đến nỗi chúng mau bị giết, nên đổ bừa nước vo gạo, vứt bừa cơm cháo [thừa]. Chẳng biết có phạm tội lỗi khinh rẻ ngũ cốc, vong ân phụ nghĩa hay không? (Lâm Đắc Mô hỏi)

 

      Đáp: Cơm thừa chẳng thí cho súc sanh thì cũng là có phân biệt. Nếu nhà hàng xóm không có sức nuôi lợn, nhưng vì ta hằng ngày vứt bỏ cơm thừa, họ bèn thừa dịp ấy nuôi một con lợn. Như vậy là có lỗi. Nếu có cơm thừa, chẳng một mực để một chỗ nuôi lợn, có thể chia ra cho chó ăn, há lẽ nào mắc phải điều tiếng giúp kẻ khác giết chóc! Nếu khinh rẻ ngũ cốc, sẽ bị tổn phước.

 

      * Hỏi: Có hai người họ Trương và Lý, trong quá khứ là bạn rất thân thiết, đã sớm có ý nguyện hiến thân vì giáo pháp. Có lần, họ Trương được Trụ Trì chùa nọ mời đến giảng diễn Phật pháp. Khi ấy, nhân sĩ nơi đó bận bịu kiếm sống, không rảnh rang để tham cứu. Họ Trương bèn thương lượng với vị Trụ Trì, hãy vì chúng sanh, chiêu sinh miễn phí, nhằm thuận tiện diễn thuyết Phật pháp, vị Trụ Trì chấp thuận. Sau khi mở trường, học trò có đến tám mươi mấy người. Họ Trương chẳng thể đủ sức đảm trách, bèn thương lượng với vị Trụ Trì, mời ông Lý đến dạy giúp. Hai tháng sau, chiếu theo lời nguyện, chẳng thâu tiền học, nhưng vị Trụ Trì lòng còn ham lợi, bảo ông Trương và ông Lý phải thâu tiền học. Ông Trương và ông Lý cự tuyệt. Trụ Trì bèn ép Trương và Lý phải ra đi. Rốt cuộc vị Trụ Trì chẳng giữ lời thệ nguyện, hay là ông Trương và ông Lý có ý kiến thất kính đối với vị Trụ Trì? (Ông Minh Đạo hỏi)

 

      Đáp: Điều này thuộc về vấn đề thị phi, nhân ngã, chẳng dính líu đến giáo lý, nên tôi tránh né, chẳng đáp!

 

      Hỏi: Sau đấy, ông Trương và ông Lý phát hiện Trụ Trì là người keo tham kiên cố, tăng chẳng ra tăng, tục chẳng ra tục, nói lời ác khẩu, thường đổi trắng thay đen, hành vi còn thua kẻ tục gia, người xuất gia kiểu đó có được coi là Tăng Bảo trong Tam Bảo hay không? (Ông Minh Đạo hỏi)

      Đáp: Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng, ai nấy đều biết; cư sĩ đã nói “chẳng tăng, chẳng tục” rồi! Kẻ hèn này chưa biết rõ tình hình, làm sao dám tùy tiện luận đoán.

 

      * Hỏi: Ông Lý phát hiện vị Trụ Trì quỷ kế đa đoan, thường làm những chuyện trái lẽ, bèn đối với ông Trương cáu kỉnh, nói ông Trương chưa mở mắt. Có lúc hai ông Trương và Lý cãi cọ, thậm chí muốn ăn thua đủ với nhau, chứ không phải hễ cãi nhau xong lại hòa hảo như xưa. Do nhân duyên nào mà thành nông nỗi nực cười đến thế? (Ông Minh Đạo hỏi)

 

      Đáp: Thiên Nhãn chưa khai, làm sao có thể nói được nhân duyên trong đời trước? Nhưng hai người ấy đời này công phu nhất định là không tốt đẹp, cho nên mới chẳng thể nhẫn nại. Đã sớm mang ý nguyện hiến thân cho Phật giáo, nếu chẳng hối cải chuyện này, sợ họ cũng chẳng thể đảm đương chuyện lớn được!

 

      * Hỏi: Phật giáo sùng bái thuyết “toàn thể vũ trụ pháp giới thân bất sanh, bất diệt, bất tăng, bất giảm”. Vì vậy, Hoạt Phật chuyển thế được giáo lý Phật giáo chấp nhận. Hai chữ “chấp nhận” có mâu thuẫn tồn tại trong ấy, hay là nói viên dung?(Trương Minh Thanh hỏi)

 

      Đáp: Pháp Thân bất động, tùy theo từng loài mà chuyển thế là Ứng Thân. Pháp Thân giống như nước, Ứng Thân giống như bọt sóng, hoặc các loại sóng v.v... Tuy hiện các tướng như bọt nước v.v... nhưng nước vẫn là bất sanh, bất diệt, bất tăng, bất giảm. Lý ấy há có mâu thuẫn gì?

 

      * Hỏi: Nếu có người vẽ hình tướng Bồ Tát, tặng cho người tin tưởng và kẻ chưa tin tưởng để thờ phụng, chính mình ngấm ngầm hồi hướng “vẽ hình Phật, nhằm kết thiện duyên, nguyện sanh về cõi sen, lại nguyện kết duyên với bậc đại đức để làm thầy hóa độ lẫn nhau trong tương lai”. Bất Huệ sợ trong tương lai mê mất bổn tánh nên hồi hướng như thế, chẳng biết có hợp lý hay không? Hay là vẫn còn mầm mống tham dục trong đó? Xin hãy khai thị. (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Hành vi ấy tuy chẳng trái Lý, nhưng rốt cuộc vẫn là bỏ gốc chạy theo ngọn, chẳng trông cậy và nương tựa bốn mươi tám nguyện vương [của A Di Đà Phật], lại ngược ngạo nương theo những kẻ khác để [mong mỏi họ sẽ] làm thầy độ ta, há chẳng phải là [trèo lên] cây cao, [mò xuống] hang sâu, có những chỗ chẳng thể thực hiện được ư?

 

      * Hỏi: Áo ca-sa dùng trong Tăng đoàn có ngũ y, thất y, cửu y, nhập ngũ y (y năm điều, bảy điều, chín điều, hai mươi lăm điều) sai khác. Trong mấy loại này, loại nào chỉ dành cho tỳ-kheo mặc? Lại nữa, y hai mươi lăm điều ắt phải dành riêng cho tỳ-kheo đã thọ Cụ Túc Giới đắp, hay là sa-di chưa thọ Cụ Túc Giới cũng có thể đắp? Tại gia cư sĩ trong khi làm Phật sự, có thể đắp hay không? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Tại gia cư sĩ thọ mãn phần Ngũ Giới chỉ được phép đắp mạn y (y trơn, không có điều), những loại khác đều dành cho người xuất gia dùng.

 

      * Hỏi: Mạt học hiện đang ở tệ tự, vào lễ Tắm Phật nhằm ngày Mười Chín tháng Ba Âm Lịch (ngày tháng theo lệ ở nơi ấy), thấy có tại gia cư sĩ cũng đắp y hai mươi lăm điều làm chủ lễ, cùng các tỳ-kheo-ni làm Phật sự. Vị cư sĩ ấy còn cắt tóc theo kiểu Tây phương, xin luận định chuyện này có hợp với quy củ nhà Phật hay không (Nhan Khoan Văn hỏi)

           

      Đáp: Kẻ hèn này lê gót mấy chục tỉnh, thấy các tượng trong miếu thờ Thổ Địa đều là khăn vuông[7], khoác áo dài, chưa hề thấy tượng thần Thổ Địa nào đội mũ miện có tua, thêu thùa rực rỡ[8] như Ngọc Hoàng Đại Đế. Chuẩn theo đó, dường như [cư sĩ đắp y hai mươi lăm điều làm chủ lễ] không thỏa đáng; nhưng vẫn xin hỏi một vị tỳ-kheo xuất gia chuyên nghiên cứu giới luật khác thì mới có được kiến giải xác đáng!

 

      Hỏi: Đối với chuyện thâu nhận đồ đệ, người xuất gia chưa thọ Cụ Túc Giới (tức Sa Di) cũng có thể thâu nhận đồ chúng hay chăng? Người xuất gia nào cũng có thể thâu nhận kẻ khác xuất gia, hay chỉ hạn cuộc trong số những vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni đã thọ Cụ Túc Giới thì mới có năng lực ấy? (Nhan Khoan Văn hỏi)

     

      Đáp: Kẻ hèn này là tại gia cận sự nam, chỉ biết tầm chương trích cú, xem mấy quyển kinh, còn đối với khuôn phép trong tùng lâm, chùa miếu v.v... quả thật chẳng biết gì cả!

 

      * Hỏi: Đã là Phật giáo đồ tại gia hay xuất gia mà làm chuyện cầu thần, coi bói, lại còn hướng về thần minh cầu luyện đơn, thảo dược, làm những hành vi mê tín ấy, có phải là tà kiến hay không? Đối với đạo nghiệp, có phương hại gì? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Mê tín tức là tà kiến. Do tà kiến có sâu hay cạn, nên đạo nghiệp bị tổn hại lớn hay nhỏ cũng chẳng thể biết trước chắc chắn được!

 

      * Hỏi: Ni sư Đạt Không, trụ trì Cổ Nguyệt Am ở Bắc Thế Nội Hồ tại Đài Bắc đã viên tịch hơn một tháng trước, có đệ tử quy y của Ngài mời đồng cốt coi thử người mất đã về Tây Phương hay chưa? Theo lời bà đồng nói, ni sư đã ngồi xếp bằng trong hoa sen nơi ao bảy báu, phải ngồi suốt bốn mươi chín ngày mới lìa liên hoa bảo tọa. Lạ thay! Đối với Tây Phương Phật quốc, một kẻ phàm phu làm sao có thể tùy tiện đến cõi Phật như vậy. Chuyện như thế sợ chỉ là một thứ vọng kiến, vọng ngôn, hay là có chuyện này? Mong đại đức phá trừ hư vọng! (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Đồng cốt vô tri, lời lẽ yêu mị dối gạt đại chúng, chỗ nào cũng có. Há rảnh rỗi để hướng về bọn chúng luận định hay dở!

 

      * Hỏi: Đối với lời giải đáp gồm ba đoạn của đại đức dành cho cư sĩ Hoàng Thiên Tống ở Đào Viên, câu cuối cùng trong đoạn giải đáp thứ nhất là: “Nếu sát sanh chẳng phải là tội ác thì phóng sanh bèn là tội ác vậy”. Câu ấy tợ hồ điên đảo diệu nghĩa, mong đại đức hãy phân tích rành rẽ hòng tháo gỡ vướng mắc! (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Sát sanh và phóng sanh tánh chất tương phản cùng cực, thiện và ác cũng tương phản cùng cực. Con người coi phóng sanh là thiện, sẽ cho sát sanh là ác. Nếu thấy sát sanh là thiện, sẽ tự cho phóng sanh là ác. Sự Lý hiển nhiên, chẳng có diệu nghĩa gì cả!

 

      * Hỏi: Thế gian chẳng lìa Phật pháp, Phật pháp chẳng lìa thế gian, nhưng đao binh, loạn lạc, tà ác mỗi ngày một nặng hơn, đạo đức ngày càng giảm sút, đủ mọi chuyện chẳng chánh đáng. Phật pháp có thể tồn tại trong tà ác hay chăng? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Bồ Đề là Phật pháp, phiền não cũng là Phật pháp, không có phiền não làm sao có Bồ Đề; không có Bồ Đề, làm sao hiển lộ phiền não?

 

      * Hỏi: Ba năm trước, hội Phật Giáo phái pháp sư Viên Minh sang Nhật Bản nghiên cứu, khảo sát. Gần đây, báo chí đăng tin pháp sư Viên Minh hoàn tục, chẳng biết có thật không hay là có người báng bổ. Pháp sư Viên Minh chẳng hiểu “phải thoát khỏi nhà lửa” thì mới là đúng! (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Kẻ hèn này chẳng hề trao đổi tin tức với Nhật Bản, nhất loạt chẳng biết.

 

      * Hỏi: Lúc mới phát tâm học Phật, tôi có viết những tác phẩm khuyến thiện liên quan đến Phật giáo như nhân quả v.v... do học vấn sâu hay cạn, sợ có chỗ hư cấu, chẳng thật, hoặc là tự tiện đặt ra tên họ của những người đóng vai chính và thời đại, cũng như hình dáng của họ v.v... Có thể nói chuyện này là tội vọng ngữ hay chăng? (Nhan Khoan Văn hỏi)

 

      Đáp: Nếu có chuyện ấy, hãy nên viết đúng theo sự thật. Nếu là giả định thì có thể coi như phương tiện, chẳng bị câu thúc gì!

 

      * Hỏi: Học nhân làm thợ trên núi, thường xuyên phát hiện rết, rắn độc, có nhiều đồng nghiệp muốn đập chết, nhưng học nhân đều thả chúng đi, có người nói: “Chẳng đánh chết chúng nó, ngươi sẽ bị tội!” (Niếp Vân hỏi)

 

      Đáp: Lập trường mỗi người mỗi khác, cho nên quan điểm khác biệt. Những người có ý định như Tôn Thúc Ngao[9], coi con người là trọng, nên lòng nhân từ có phạm vi hẹp nhỏ. Cư sĩ vâng lãnh lời dạy của đức Thích Tôn, thấy chúng sanh bình đẳng, nên phạm vi của lòng nhân từ rộng lớn. Đây là nói theo mặt Sự; nếu dùng Lý để luận, đối với kẻ chưa tạo tội, sẽ chẳng thể trừng phạt được! Nếu cứ dựa theo năng lực có thể gây hại cho con người để ghép tội thì tất cả nam tử trên cõi đời đều nên đem thiến hết bởi họ có cơ quan ấy sẽ có khả năng hành dâm!

 

      * Hỏi: Đề Bà Đạt Đa là phản đồ của đức Phật, nhưng kinh Pháp Hoa có phẩm Đề Bà Đạt Đa, [trong phẩm kinh ấy] đức Phật coi ông ta là thiện tri thức, sẽ được thành Phật, hiệu là Thiên Vương Như Lai. Vị thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa [được nói trong kinh Pháp Hoa ấy] có phải là phản đồ Đề Bà Đạt Đa hay không? Hay là lúc đức Phật nói kinh Pháp Hoa, Đề Bà Đạt Đa chưa có dấu vết phản bội? Cớ sao diễn dịch tên những vị tiên hiền một thiện, một ác lại có cùng tên, trọn chẳng có thông tin gì để phân biệt? (Hoàng Bảo Thật hỏi)

 

      Đáp: Đề Bà Đạt Đa [được nhắc tới] trong các kinh chỉ là một người. Kinh Pháp Hoa chép về Bổn Sự, Ngài đã từng truyền cho đức Thế Tôn kinh Pháp Hoa. Các kinh khác chép ông ta đã nhiều lượt thị hiện dấu tích não hại, phản bội. Xét ra, ngài Đề Bà vốn là bậc đại Bồ Tát quyền hiện, truyền dạy kinh là thuận nhiếp, não hại là nghịch chiết, đều nhằm thành tựu cực quả cho đức Thích Tôn, cho nên gọi là thiện tri thức.

 

* Hỏi: Nghe nói hết thảy các loài hàm linh ngọ ngoạy đều có Phật Tánh, ví như các loài trùng trong thân chúng ta đều có Phật Tánh, há chẳng phải một thân toàn là Phật? Tôi chẳng hiểu, xin hãy chỉ giáo! (Trương Khải Minh hỏi)

 

      Đáp: Chỉ có thể nói một thân toàn là Phật tử, do [chúng nó] còn chưa tu, nên hiện thời chưa phải là Phật, giống như vàng trong quặng cần phải tinh luyện.

 

* Hỏi: Trong Thiền Môn Nhật Tụng, nơi trang mười hai, những bài tán gia đình, Táo Quân, kho gạo, nhà kho, ruộng vườn, vườn rau, kho hàng hóa v.v... do đâu mà có? (Trương Khải Minh hỏi)

 

      Đáp: Các bài tán do người đời sau soạn ra, bất quá chẳng ngoài dụng ý ca tụng, khen ngợi. Luận theo phía người làm kinh sám thì rõ ràng là các bài tán hoa dạng vô cùng. Nếu luận theo phía trai chủ thì cốt sao náo nhiệt, êm tai mà thôi!

 

      * Hỏi: Bỉ nhân có lúc vì đạo hữu thỉnh cầu mà tham gia siêu độ trong đám tang của kẻ khác, tụng kinh sám, hoặc niệm Phật, nhưng lúc muốn hồi hướng cho người đã khuất thì nên dùng loại văn hồi hướng nào? Xin hãy chỉ dạy, có mấy thứ [văn hồi hướng]? (Vương Bỉnh Nhân hỏi)

 

      Đáp: Hồi hướng cho người đã khuất, một bài “nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung” là được rồi. Nhưng cư sĩ trợ niệm siêu độ đạo hữu, hoặc những người quen biết, bạn bè thì không gì là chẳng được; nếu một mực làm kinh sám ngoài xã hội, sẽ tổn đạo, tổn danh.

 

      * Hỏi: Sau khi niệm kinh hoặc niệm chú để cầu tiêu tai giùm đạo hữu thì nên dùng loại văn hồi hướng nào? (Vương Bỉnh Nhân hỏi)

 

      Đáp: Niệm bài kệ “nguyện tiêu tam chướng chư phiền não” là được rồi.

 

      * Hỏi: Cư sĩ gặp tỳ-kheo-ni nên hành lễ như thế nào? (Vương Bỉnh Nhân hỏi)

 

      Đáp: Nói thông thường, cư sĩ thấy hai chúng xuất gia, đều đảnh lễ. Để hợp nghi quy, cần phải hỏi tường tận nơi các vị chuyên gia về giới luật thì mới có căn cứ. Kẻ hèn này cho rằng tỳ-kheo-ni đã đắp y năm điều, đó là tướng phước điền, hãy nên hướng về họ đảnh lễ, sẽ có ích cho ta.

 

      * Hỏi: Phật giáo chia thành mười tông. Trong đó, Tịnh Độ Tông và Thiền Tông khá phổ biến. Tịnh Độ Tông dạy người ta niệm Phật hòng đắc nhất tâm bất loạn, chứng Phật quả. Lại còn nói niệm Phật có thể được Phật, Bồ Tát gia hộ, nên dốc hết tánh mạng quỳ lạy, lạy một chập có thể tiêu tai, tiêu nghiệp chướng, nhưng so ra Thiền Tông chẳng có một tí sắc thái mê tín nào! Như trong kinh Lăng Nghiêm có câu: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai” (nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, chẳng thể thấy Như Lai). Đương nhiên, đức Phật dạy đủ mọi phương pháp (tức năm thời Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa, Niết Bàn) đều là nói về một chữ Tâm, tức là “Phật thuyết nhất thiết pháp, tức phi nhất thiết pháp, thị danh nhất thiết pháp” (đức Phật nói hết thảy các pháp chẳng phải là hết thảy các pháp, nên gọi là hết thảy các pháp), nhưng những gì đức Phật nói đều là chân thật, cớ sao về một phương diện, Ngài nói có Phật tồn tại, đồng thời lại nói đừng nên mê tín? Rốt cuộc là như thế nào, tôi chẳng mò được đầu mối! (Tạ Bích Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Vọng niệm của chúng sanh giống như bệnh, pháp môn của Phật Đà như thuốc. Lời Phật nói có nguyên do, chẳng phải là mê tín. Nói Không cũng chẳng phải là chân thật, do khế cơ mà nói, trọn chẳng nhất định. Như loại thuốc Nhiệt có thể trị bệnh Hàn, thuốc mát có thể giải bệnh nóng, thuốc gây đi tả để trừ chứng đầy chướng, thuốc bổ để bù đắp hư nhược. Lương y vận dụng [các vị thuốc khéo léo], tài trị bệnh lẫy lừng. Gã thầy thuốc tầm thường, chẳng hiểu y lý, cắt thuốc lung tung cho người bệnh thì thuốc có thể giết người! Há có phải chỉ chẳng nắm được đầu mối mà thôi!

 

      * Hỏi: Theo phẩm Quy Y Tam Bảo trong kinh Phật đã giảng, quy y Tăng là quy y Đệ Nhất Nghĩa Tăng, vì sao những vị như pháp sư X.... nói là quy y bọn họ, lại còn tự xưng là đại diện cho Tăng đoàn. Họ là đệ tam nghĩa Tăng, là những vị tăng còn đang tu hành chưa chứng quả, làm sao có thể khiến cho chúng sanh quy y? Đời này họ là pháp sư X.... thì đời sau vẫn là pháp sư X... ư? Về căn bản là chẳng thể nào làm chỗ nương tựa cho chúng sanh, họ có vi phạm giáo lý trong phẩm Quy Y Tam Bảo hay chăng? (Tạ Bích Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Tăng đoàn là nói về Sự, chính là vấn đề thuộc về chế độ nghi thức, Đệ Nhất Nghĩa Tăng là nói về Lý, là vấn đề thuộc về tu trì tâm tánh; hai đằng chẳng thể phế bỏ một bên nào! Không có Sự sẽ chẳng hợp nghi quy, không có Lý sẽ là chỉ có bề ngoài; [do vậy] hãy nên đối với chuyện nhập môn thì tuân theo nghi thức, còn tu trì thì nương theo tâm tánh. Nói “quy y” là quy y mười phương Tam Bảo, trọn chẳng phải là đệ tử của riêng một người nào! Một người nào đó tuy có luân hồi, nhưng Tam Bảo thường trụ. Nếu đối với một người nào đó, tâm chẳng hoan hỷ, hãy nên tìm người khác có thể đại diện Tăng đoàn để xin quy y, cũng chưa hề chẳng được! Chớ nên vì nghẹn mà bỏ luôn không ăn!

     

      * Hỏi: Kinh Khởi Thế[10], quyển mười, chép: “Chư tỳ-kheo! Thử đại châu trung, hữu Diêm Phù thụ, nhân thử thụ cố, danh Diêm Phù Châu. Kỳ thụ cao đại, ảnh hiện nguyệt luân, dĩ thử nhân duyên, hữu chư ảnh hiện” (Này các tỳ-kheo! Trong đại châu này có cây Diêm Phù, do có cây ấy nên gọi là châu Diêm Phù. Cây ấy cao lớn, hiện bóng trong mặt trăng. Do nhân duyên đó, [mặt trăng] có các thứ hiện bóng); nhưng Đại Đường Tây Vực Ký (bản in của Đài Loan Ấn Kinh Xứ), trang chín mươi sáu ghi: “Thố viết: ‘Cảm dĩ vi cung, sung thử nhất thực’. Từ tất nhập hỏa, tầm tức trí tử, nguyệt trung chi thố, tự tư nhi hữu” (Con thỏ nói: “Dám đem cái thân nhỏ nhoi này làm bữa đỡ lòng”, nói xong, nhảy vào lửa, liền bị chết ngay. Từ đó mới có con thỏ trong mặt trăng) (đây là chuyện thỏ (tiền thân của Phật Thích Ca) dùng thân để cúng dường Đế Thích hóa làm người [nghèo đó đến thử lòng thỏ]). Hai thuyết giải thích những vệt đen trắng trong mặt trăng trên đây, rốt cuộc thuyết nào là đúng?(Chân Tàm Quý hỏi)

 

      Đáp: Kinh nói về cây, Ký nói về thỏ, vốn là hai chuyện, như trong một sân, có bóng hoa mà cũng có bóng trúc, nói tới hoa hay nói tới trúc, là nói riêng một thứ, chẳng phải là nói tới hoa, chẳng cho phép nói tới trúc, nói tới trúc chẳng được phép nói tới hoa. Nếu nói thuyết nào là đúng, ắt nên tuân theo kinh, bởi lẽ Ký đã ghi rõ ràng: “Cố bỉ cảm ngôn nguyệt trung chi thố” (Vì thế, họ dám nói đến con thỏ trong mặt trăng), chữ Bỉ chỉ người dân nước Ba La Ni Tư (Baranasi, Varanasi, Benares), bất quá là lời truyền tụng mà thôi, cũng giống như ở Trung Quốc thường truyền tụng trong mặt trăng có Thường Nga[11]. Còn như đọc kinh thì cũng phải nên biết các cách nói tùy thuận quyền hay thật thì mới chẳng hiểu lầm ý nghĩa.

 

* Hỏi: Những kẻ như Đề Bà Đạt Đa, tỳ-kheo Cù Già Lê[12], Chiến Giá Bà-la-môn nữ[13]... do hại Phật, báng Phật mà đọa địa ngục ngay trong khi còn sống (theo Đại Đường Tây Vực Ký, trang bảy mươi chín); nhưng bọn ma vương, quyến thuộc ma v.v... cũng là chúng sanh trong tam giới, vì cớ gì họ nhiễu loạn Phật, ganh ghét Phật, đe dọa Phật, mà rốt cuộc vẫn an nhiên chẳng bị hãm trong địa ngục? (Chân Tàm Quý hỏi)

 

      Đáp: Ba Tuần nhiễu loạn trước khi đức Thích Tôn thành Chánh Giác, nên có thể coi như nhiễu loạn Bồ Tát. Đạt Đa hãm hại sau khi đức Thích Tôn đã thành Chánh Giác, đó là sát Phật, [so ra hai tội ấy] thuộc loại nặng nhẹ khác nhau. Lại nữa, đối với nhân quả, phải nên luận ba đời sớm hay trễ, tiêu trừ, tăng trưởng, nhân, chia, Sự Lý hết sức phức tạp, chẳng thể chấp một bề được!

 

      * Hỏi: Khi ngài Đại Ca Diếp[14] đến quy y đức Thích Tôn, cũng đã từng để đức Phật ngủ trong hang đá có rồng độc, chuyện ấy cũng chẳng khác gì hại Phật, cớ sao cũng chẳng hề bị hãm trong địa ngục? (Chân Tàm Quý hỏi)

 

      Đáp: Trong lúc ấy, ngài Đại Ca Diếp đã nói trước: “Trong hang có rồng độc”, tức là không cố ý hãm hại, chẳng giống kẻ ôm lòng hãm hại.

 

      * Hỏi: Đức Phật lại chế định có thể ăn tam tịnh nhục, tức là “không thấy giết, chẳng nghe nó bị giết, chẳng vì ta mà giết”; nhưng tệ xá ở gần lò mổ, mỗi sáng nghe tiếng lợn rú thê thảm, mà chỗ tôi ở lại ăn uống tập thể, không thể tránh được đồ mặn tanh hôi, không biết đấy có phải là loại thịt nghe giết hay chăng? (Nhan Văn Bộc hỏi)

 

      Đáp: Nghe tiếng ai oán nơi ấy, chẳng ăn thịt của nó thì là tâm đại từ bi. Nghe tiếng ai oán nơi ấy, mà ăn thịt từ nơi khác thì cũng tạm chấp nhận được. Nghe tiếng ai oán nơi ấy, mà vẫn ăn thịt từ nơi ấy thì thịt đó là bất tịnh. 

 

      * Hỏi: Đối với công đức đọc kinh, trong kinh Kim Cang có kinh văn nói rõ ràng, nhưng kinh Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, Tâm Kinh v.v... chỉ nói tới lợi ích do trì danh và trì thần chú, trọn chẳng nói tới chuyện đọc kinh, vậy thì người hiện thời mỗi ngày đọc những kinh ấy là do dựa vào đâu? (Triệu Trạch Vũ hỏi)

 

      Đáp: Thọ trì kinh có đọc, tụng, biên chép, giảng giải, tu trì, các thứ sai khác, chớ nên câu nệ một phương diện. Nếu cứ chấp trước phải đọc tụng thì cũng không hề chẳng được! Di Đà, phẩm Phổ Môn, Tâm Kinh v.v... cũng đều nói tới công đức trì tụng, sao lại bảo là [những kinh ấy] chẳng nói? “Văn thị kinh, thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm, giai đắc bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (kẻ nghe kinh này, thọ trì và nghe danh hiệu chư Phật đều được hết thảy chư Phật hộ niệm, đều được chẳng lui sụt nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) là khen ngợi công đức trì kinh Di Đà. “Nhược hữu nhân thọ trì lục thập nhị ức Hằng hà sa Bồ Tát danh tự... Nhược phục hữu nhân thọ trì Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, nãi chí nhất thời lễ bái, cúng dường. Thị nhị nhân phước chánh đẳng vô dị, ư bách thiên vạn ức kiếp, bất khả cùng tận” (Nếu lại có người thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát... Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, cho đến lễ bái, cúng dường trong chốc lát, thì phước của hai người ấy giống hệt như nhau, chẳng khác, trong trăm ngàn vạn ức kiếp chẳng thể cùng tận). Đó là khen ngợi công đức trì thánh hiệu Phổ Môn. “Năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư” (Có thể trừ hết thảy khổ, chân thật, chẳng dối) là tán thán công đức trì Tâm Kinh Bát Nhã. Do những điều đã nêu trên đây, kinh văn đã nói rõ rành rành, cớ sao bảo là chẳng nói?

 

      * Hỏi: Ngữ âm các nơi bất đồng (như những chữ A, chữ Phật v.v...), hoặc dịch tên mỗi chỗ mỗi khác (như Quán Thế Âm, Quán Tự Tại v.v...), nếu chúng sanh trì niệm khác nhau mà đều có thể đạt được cảm ứng, thì cái quả của trì danh là do tâm chứ không do danh! Lại nữa, thánh hiệu Phật, Bồ Tát có các cách dịch âm hoặc dịch nghĩa đủ mọi thứ sai khác, nhưng đều có thể cảm ứng; điều này do đức Phật dạy, hay là do người đời sau đặt ra, lấy gì làm chứng cứ? (Triệu Trạch Vũ hỏi)

 

      Đáp: Tuy nói là tại tâm, chẳng do tại danh, nhưng phải nhờ vào lòng tin nơi danh hiệu thì mới có thể chuyển biến cái tâm. Càng phải nên biết thần thông và năng lực của Phật chẳng giống như chúng ta. Phật có thể dùng một âm thanh để thuyết pháp, khiến cho vô lượng loài chúng sanh ngôn ngữ bất đồng đều có thể hiểu. Đức Phật nghe ngôn ngữ bất đồng của vô lượng loài, cũng đều hiểu rõ. Niệm kinh, trì danh, chỉ trọng tín tâm, nương vào tiếng trong tâm, sẽ có thể cảm ứng. Nếu cứ cầu âm thanh phải đích xác, không chỉ ngoài trăm dặm đã có khác biệt, dẫu ở trong cùng một khu, từ xưa tới nay cũng chẳng biết đã chuyển biến mấy trăm hay mấy ngàn lượt! Đối với vấn đề này, nếu vì lòng kính trọng mà dấy lên [chuyện cầu âm đọc đích xác], hãy nên cầu hỏi nơi người có thật học nơi kinh Phật, hòng được người ấy đích thân khẩu truyền, rồi nương theo đó để tụng niệm thì hơn!

 

      * Hỏi: Xưa kia, Phật, Tổ do căn cơ của con người mà thí giáo, cho nên Ngài dễ dẫn dắt đệ tử nhập đạo, chúng sanh trong đời nay làm thế nào để có thể liễu ngộ tánh tình của chính mình gần gũi với pháp nào? Nếu chẳng khế cơ sẽ khó nhập đạo, đúng không? (Triệu Trạch Vũ hỏi)

 

      Đáp: Đây là do người thí giáo có thể quan sát căn khí của chúng sanh, do [thuận theo] căn cơ mà thuyết pháp, chẳng phải là chúng sanh tự biết chính mình khế hợp pháp môn nào mà tự chọn lựa pháp môn. Nhưng nếu chúng sanh hiểu được đường lối của các pháp môn, cũng có một pháp môn phù hợp tâm lý [của người ấy], lúc đó, cũng có thể tự chọn lựa!

 

      * Hỏi: Có năm loại người được gọi là “Phật khó thể độ”, huống hồ Bồ Tát? Trong ấy có một loại là hành giả hứng chịu quả báo bần cùng, chưa thể tạo lợi ích cho chúng sanh, mà còn ngược lại! Vì sao Tài Bố Thí nghiêm trọng như thế? Nó có thể chướng ngại Niết Bàn đến nỗi như vậy, Pháp Bố Thí chẳng thể thay thế ư? Hay là do keo kiệt, tham lam khó thể đoạn diệt? Lý do ở chỗ nào? (La Đức Chương hỏi)

 

Đáp: Có của cải mà chẳng bố thí thì mới gọi là keo kiệt. Keo kiệt là phiền não, tự chướng Niết Bàn. Nếu thật sự nghèo nàn, thiếu thốn, chẳng có của cải để bố thí, chẳng phải là tánh keo kiệt thì trọn chẳng nẩy sanh lầm lỗi. Pháp Bố Thí được gọi là tối thượng trong các pháp, nếu chịu tinh tấn, siêng năng, công đức sẽ to lớn. Kinh đã dạy ý nghĩa: “Bố thí bảy báu trọn khắp tam thiên đại thiên thế giới vẫn chẳng bằng nói một bài kệ”, há còn có thể coi rẻ Pháp Thí ư?

 

* Hỏi: Nếu nhân loại trên thế giới, ai nấy đều tu hành thành đạo, sau này thế giới sẽ giống như thế nào? Có phải là như thánh giáo nói, [thế giới Sa Bà] sẽ biến thành Cực Lạc hay chăng? (Đàm Hồng Bân hỏi)

 

      Đáp: Lời hỏi của cư sĩ bất quá là giả thiết nói như vậy mà thôi, thuộc loại hỏi chơi, đáp chơi! Cần biết rằng: Vạn pháp do tâm tạo, nếu chúng sanh trên cả thế giới đều chứng Phật đạo, cõi này chính là cõi Phật thanh tịnh, nhưng vẫn khác cõi Cực Lạc. Bởi lẽ, cõi ấy do Phật Di Đà khi tu nhân đã phát ra bốn mươi tám hoằng nguyện tạo thành, đủ mọi thứ thù thắng đều ứng hợp với lời nguyện. Nếu nguyện của mọi người tu trong cõi này hợp với nguyện Di Đà thì cũng có thể hiển hiện giống như Tây Phương.

 

* Hỏi: Học trò vốn mang lòng từ bi phương tiện để xử thế, nghĩ sẽ được người đời hoan nghênh. Nếu gặp một số ít chẳng rộng dung, chê bai là từ bi giả dối thì nên giữ thái độ đối đãi như thế nào? (Đàm Hồng Bân hỏi)

 

      Đáp: Người đời chê cười, từ xưa đến nay chẳng thể tránh khỏi, ai nấy hành theo điều mình cho là đúng, đừng màng tới họ!

 

      * Hỏi: Ngẫu Ích đại sư nói: “Pháp sư thị vương bát, luật sư thị ô quy” (pháp sư là ba ba, luật sư là rùa đen)[15], có phải là tạo khẩu nghiệp hay chăng? Hay là có dụng ý? Ngài lại nói: “Y văn giải nghĩa, tam thế Phật oan. Ly kinh nhất cú, tức đồng ma thuyết” (Hiểu nghĩa theo văn tự, ba đời chư Phật oan uổng. Lìa khỏi kinh một câu, sẽ giống như ma nói), vậy thì giảng kinh như thế nào mới là đúng? (Thí Vô Úy hỏi)

 

      Đáp: Theo như kẻ hèn này biết thì Ngài nói pháp sư và thiện tri thức, chẳng phải là pháp sư và luật sư, hay là cư sĩ xem ấn bản khác ư? Nhưng đối với mục vấn đáp này, từ đầu đã thưa rõ: Nếu hỏi tới sách vở thì phải chỉ rõ phát xuất từ tác phẩm nào, đoạn nào, bởi sách vở thế gian và xuất thế gian mênh mang như hơi khói trên mặt biển, chẳng chỉ rõ, sẽ không biết phải thưa thốt từ chỗ nào! Nay tôi dùng những điều mình biết để thưa. Khi tổ sư nói lời ấy, chính là đáp lời hỏi của người cậu, chú trọng ở một câu “chỉ cần khôi phục bổn lai diện mục”, câu nói [được ông dẫn ra trong lời hỏi] trên đây nhằm quét sạch những phường ham danh chuộng lợi trong thế gian mà thốt ra lời thống thiết ấy. Nếu “y văn giải nghĩa” sẽ giống như mua rương trả châu[16]“ly kinh nhất tự” là chẳng tuân theo thánh giáo, nên đều là sai lầm. Cư sĩ đã nói là người mới tin, đối với giáo tướng vẫn chưa thể hiểu rõ, đối với chuyện giảng kinh xin hãy đợi sau này, “giảng kinh như thế nào mới đúng” xin dành lại để sau này thảo luận cũng chẳng muộn!

 

      * Hỏi: Tôi có một đồng nghiệp là tín đồ Phật giáo, đọc sách Phật rất nhiều. Ông ta nói: “Đức Phật tu đạo dưới một vách đá, con trai của chú đức Phật, tức là em họ của Phật, dẫn năm trăm tên lính đến giết Phật, tìm kiếm Phật dưới vách đá, thấy trên đầu đức Phật chim làm tổ mấy tầng, em họ Ngài bèn quy y Phật, năm trăm tên lính ấy trở thành những người truyền giáo căn bản”. (Trương Vi Thụ hỏi).

 

      Đáp: Đức Phật đã tu hành từ nhiều kiếp trước, có chuyện chim làm tổ trên đầu, còn những chuyện khác [được nhắc tới trong lời hỏi] đều là sai lầm, rối lung tung xèng, chẳng cần phải bàn luận nữa!

 

      * Hỏi: Vì sao A La Hán chẳng thể tới mười phương thế giới lợi ích quần sanh? Là do tâm vị ấy chẳng nguyện, hay do chẳng đủ sức? (Lý Minh Dương hỏi)

 

      Đáp: Định tánh Thanh Văn ưa thích Niết Bàn, chán sanh tử, nên chẳng nguyện [độ sanh]. Chưa phá Trần Sa, sở học hạn cuộc, thiên lệch, nhỏ nhoi, và cũng do chẳng đủ sức.

 

      * Hỏi: Trong đời quá khứ, Đề Bà Đạt Đa từng làm thầy đức Phật (theo kinh Pháp Hoa). Cớ sao đời này lại ngược ngạo trở thành đệ tử Phật (theo kinh Nhân Duyên). Lại còn chuyên muốn hại Phật, chẳng khác kẻ thù, [điều này] chẳng hợp nhân quả! Nguyên do là đâu? (Triệu Đàm Thuyên hỏi)

 

      Đáp: Thường nghe hạnh chứng được chia thành năm loại. Một là Thánh Hạnh, tức hạnh của Nhị Thừa, Thanh Văn, Duyên Giác. Hai là Phạm Hạnh, là hạnh của Đại Thừa Bồ Tát. Ba là Đệ Nhất Nghĩa Hạnh là hạnh của Phật Thừa. Bốn là Anh Nhi Hạnh, đã chứng Phật quả, là hạnh nương theo nguyện thả chiếc bè Từ, ứng hiện đến. Năm là Bệnh Hạnh, hành hạnh “hiện thân làm ác” để nêu bày khổ báo. Hai hạnh sau cùng đều thuộc về đại từ đại bi thiện xảo độ chúng, phương tiện làm như vậy. Đức Thế Tôn đến cõi này, thị hiện Anh Nhi Hạnh, còn những việc Đề Bà Đạt Đa đã làm nhằm thị hiện Bệnh Hạnh.

 

      * Hỏi: Đạo nào gọi là ngoại đạo? Thường nghe người giảng kinh nói những pháp do ngoại đạo tu nhọc nhằn vô ích. Ngoại đạo cũng tụng kinh, lạy thần, làm những việc thiện, có gì khác chúng ta đâu? (Diệp Liễu hỏi)

 

      Đáp: Ngoại đạo là giáo ở ngoài Phật giáo, Phật pháp thấu hiểu chân tâm sâu xa, nên gọi là “nội đạo”. Bọn họ chẳng hiểu tâm pháp, nên gọi là “ngoại đạo”. Các kinh đọc tụng bởi ngoại đạo Lý nông cạn, hời hợt, phần nhiều hiểu sai chân tướng vạn pháp, là những lời lẽ chẳng liễu nghĩa! Họ thờ phụng các vị thần luân chuyển trong sáu đường, là phàm phu sanh tử chưa kiến đạo. Những điều lành họ làm đều thuộc hữu lậu thiện, chẳng phải là chân thuần. Kết quả là nếu đi theo đường chánh, chẳng qua là phước báo nhân thiên, chẳng liễu sanh tử; nếu theo đường tà, ắt chịu báo trong ba đường ác, khổ ách vô cùng, nên nói là “nhọc nhằn vô ích”. Ở trong nhà Phật chẳng giống những điều như vừa nói trên đây, suy nghĩ cặn kẽ, sẽ có thể liễu giải vậy!

 

      * Hỏi: Trong nội địa Trung Hoa có chùa Thiếu Lâm, trong chùa tự nhiên thờ phụng Phật, Bồ Tát đại từ đại bi; vì sao trong chùa lập võ quán, dạy luyện quyền thuật, kiếm thuật, danh chấn thiên hạ. Nếu luận theo [sự kiện], Phật, Bồ Tát dạy về từ bi, nhưng lại dạy đánh người khác, trong kinh Phật có chuyện ấy hay không? Đúng là khiến cho người ta khó hiểu! (Vương Phương hỏi)

 

      Đáp: Trong kinh Phật, trọn chẳng có lời nào dạy người khác luyện võ! Nếu có thần thông, võ thuật cũng thành vô dụng. Tuy chẳng có kinh văn nói về chuyện ấy, nhưng nhà Phật thật sự văn lẫn võ đều siêu quần. Phật môn chẳng bỏ một pháp, nên cũng không nhất thiết bác bỏ [võ thuật]. Xét ra người tập võ thuật, ắt tự có thân thể khỏe mạnh, nội công sử dụng hai pháp Dịch Cân và Tẩy Tủy. Sách ấy có tựa đề là Dịch Cân Kinh và Tẩy Tủy Kinh, tương truyền do Đạt Ma tổ sư trước tác. Tổ sư từng ngồi nhìn vào vách chín năm tại Thiếu Lâm. Có lẽ tăng chúng trong chùa ban đầu tập môn ấy để trừ bệnh tật, chẳng phải để đánh ai khác. Lại nói: Bồ Tát độ chúng sanh, lợi hành, đồng sự, nhiều môn phương tiện, chỗ vui chơi, cờ bạc, kỹ viện, quán rượu, còn đặt chân đến. Quyền xảo nhiếp hóa, huống hồ người luyện võ thuật, tánh tình phần nhiều nghĩa hiệp, nhờ vào hạnh Đồng Sự ấy để nhiếp hóa chính là bình đẳng từ bi.

 

* Hỏi: “Tứ Đại độc xà, Ngũ Ấm oán tặc, Lục Nhập không tụ” (Tứ Đại là rắn độc, Ngũ Ấm là oán tặc, Lục Nhập là xóm rỗng không). Tứ Đại và Ngũ Ấm đều thuộc về tự thân, chẳng phải từ bên ngoài đến, vì sao gọi là rắn độc, oán tặc; Lục Nhập đã là Không, Không thì làm sao có tụ tập được? (Cố Phượng Anh hỏi)

 

      Đáp: Thân vốn là huyễn hóa, trọn chẳng phải tự có. Tứ Đại tưng bừng tranh chấp, chẳng hề hòa hợp, giống như rắn độc. Ngũ Ấm lừng lẫy, cướp đoạt các công đức, giống như oán tặc. Bốn con rắn tranh chấp tưng bừng, thân sẽ bị bệnh. Năm tên giặc hung hăng, ngang ngược, ắt tâm mê lầm. Vì thế, trước khi sanh ra, sau khi chết đi đều là cảnh khổ, bị rắn và giặc ấy làm hại. Thân vốn chẳng có, có thể nói là Không Thân (thân trống rỗng). Căn cũng chẳng thật, có thể nói là Không Căn; nhưng Căn có huyễn tướng, nên có thể nói là Tụ.

 

      * Hỏi: Bác gái tôi tuổi gần bảy mươi, thường dùng hiền hiếu để duy trì nếp nhà, xóm giềng già trẻ không ai chẳng đồng thanh ca ngợi. Nhất là lúc tôi từ thuở ẵm ngửa cho đến nay, được bác gái thương yêu chăm nom từng ly từng tí, coi như con đẻ, ân đức giống như mặt trời, mặt trăng, bác gái cũng như mẹ tôi. Tôi tuy ngu, cũng chẳng dám có ngày nào quên lãng đôi chút. Do tôi vẫn còn trẻ, tốt nghiệp Trung Học chưa lâu, vào đời chưa sâu, trừ mỗi lúc đến thăm hỏi bác gái ra, ngoài chuyện biếu tặng quà cáp nhằm bày tỏ tấc lòng, chẳng biết báo ân muôn một ra sao? Tôi vẫn sợ chính mình chết non, chịu ân mà chẳng báo đền được, ắt sẽ ngậm nỗi thẹn thùng nơi chín suối. Sáng tối nghĩ đến, tinh thần chẳng khỏi ủ ê, tôi nguyện dốc lòng báo đền, kính xin lão cư sĩ ban lời chỉ dạy thì may mắn lắm thay! (Lữ Tiểu Ngu hỏi)

 

      Đáp: Mang lòng báo ân, hết sức tốt lành! Chỉ có điều báo đáp lớn nhỏ khác biệt. Biếu xén mùa nào thức nấy là báo ân nhỏ nhặt, chẳng qua chỉ khiến cho [người được biếu] tinh thần vui vẻ mà thôi! Lệnh bá mẫu tuổi đã bảy mươi, trong tương lai hết tuổi thọ, sẽ đi về đâu là một vấn đề lớn! Kẻ thật sự biết báo ân sẽ dùng điều to lớn để báo đáp, tức là dùng Phật pháp để dạy, dự bị cho người ấy vãng sanh Cực Lạc, chứng thành Phật quả, bất sanh, bất diệt. Có thể nói [cách báo ân ấy] là triệt để nhất! Không chỉ như vậy, dạy người khác niệm Phật cũng tăng trưởng công đức của chính mình; đấy là tự lợi, lợi tha. Còn như ông nói sợ sẽ chết non, là dựa vào đâu mà nói? Chuyện ấy chớ nên chấp tướng, chỉ cần dốc hết sức làm lành thì không điều gì chẳng xui xẻo, trắc trở hóa thành hanh thông vậy!

 

      * Hỏi: Phật môn thường xưng niệm thánh hiệu “Nam-mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Thiên Tôn Bồ Tát”. Vì sao Hộ Pháp Vi Đà Thiên Tôn Bồ Tát chỉ cảm ứng ba châu Đông, Tây, Nam, chẳng cảm ứng trong Bắc Câu Lô Châu? Lại nữa, vị thánh hiền [nào sẽ cảm ứng] ở Bắc Câu Lô Châu? Chúng sanh trong cõi ấy tu hạnh gì mà đến nỗi sức của Vi Đà Bồ Tát chẳng thể cảm hóa nơi ấy được? (Lý Thâm hỏi)

 

      Đáp: Bắc Câu Lô Châu đầy đủ trăm phước, nghĩ đến áo bèn có áo, nghĩ ăn bèn có ăn, hết thảy hưởng lạc, chẳng có gì chẳng vừa ý, nên chẳng biết nỗi khổ trong thế gian, chẳng biết niềm vui Niết Bàn, chìm đắm trong vui sướng tràn ngập, chẳng biết cầu giác ngộ. Vì thế, Phật pháp không có cách nào giáo hóa được, rốt cuộc họ sẽ bị đọa lạc. Kinh răn dạy: Sanh vào châu ấy chính là gặp nạn, giống như mù, lòa, câm, ngọng, [hoặc sanh trong các đường] súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, đều chẳng thể nghe Phật pháp hòng được giải thoát. Điều ấy chẳng có gì là lạ! Hãy nhìn vào Nam Thiệm Bộ Châu, phàm những kẻ hưởng phú quý, chẳng phải lo lắng vật chất, có mấy kẻ nghĩ đến chuyện cầu giải thoát; đó gọi là “kẻ phú quý khó học đạo”. Ngũ Dục là cội rễ địa ngục. Ôi! Đáng thương, đáng xót lắm thay!

 

* Hỏi: Thuở Phật tại thế, tám ngàn con cá nghe danh hiệu Phật Thích Ca đều hóa thành thiên tử, đó là chuyện thật ư? Chép trong kinh nào? (Vương Kim Đà hỏi)

 

Đáp: Đối với lời ông hỏi, chỉ cần chép trong kinh Phật thì là chuyện thật, lời Phật chẳng dối, cần gì phải sanh nghi?[17]

 

Hỏi: Trong Phật pháp, đối với hàng cư sĩ tại gia, có điều luật nào quy định rõ rệt: Chỉ được phép quy y một vị pháp sư? (Trương Quốc Tuyển hỏi)

 

      Đáp: Quy y một thầy hay nhiều thầy, trọn chẳng có văn bản quy định rõ ràng; nhưng xét theo ý nghĩa quy y Tam Bảo thì [quy y Tam Bảo] là [quy y] mười phương ba đời hết thảy chư Phật, Tam Tạng mười hai bộ hết thảy các pháp, và hết thảy các vị tăng chẳng hạn cuộc không gian và thời gian. Do vậy, quy y một pháp sư chính là quy y các vị pháp sư, thật sự chẳng phải là quyến thuộc của riêng một người nào. Bất quá theo tập tục hiện nay, kính ngưỡng đạo đức, học vấn của một vị pháp sư nào đó, muốn thân cận [bèn xin quy y]. Lại có thuyết “kết duyên quy y”, và cũng có trường hợp chẳng quy y, mà bái vị ấy làm nghiệp sư. Những điều nêu trong phần trước là nguyên tắc quy y, những điều nói trong phần sau chính là tùy thuận nhằm thông đạt quyền biến!

 

      * Hỏi: Đức Phật lúc tám mươi tuổi lên trời Đao Lợi giảng kinh Địa Tạng, [nội dung kinh ấy] thảy đều nói đến chuyện lạy Địa Tạng Bồ Tát, niệm kinh Địa Tạng hòng thoát lìa nỗi khổ trong tam ác đạo, sanh vào nhân đạo, thiên đạo. Nhân thiên há chẳng phải là tiểu quả, lại luân hồi đầu thai, vì sao khi ấy ở thiên cung, đức Phật chẳng trực tiếp giới thiệu với đại chúng pháp môn Tịnh Độ thì mới là rốt ráo? (Châu Ấu hỏi)

 

      Đáp: Thuyết pháp quý ở chỗ khế cơ. Pháp môn Tịnh Độ nhằm tiếp dẫn từ chỗ lìa khổ được vui. Thử xét những kẻ phú quý trong nhân gian [nghe giảng pháp môn Tịnh Độ] còn chẳng nghe lọt tai, chẳng cảm thấy có khổ, huống hồ cõi trời quá sung sướng, làm sao có thể tin tưởng ngay cho được? Kinh dạy “thân người khó được”, khá nên suy nghĩ sâu xa vậy!

 

      * Hỏi: Tôi thấy tập san Bồ Đề Thụ số ra ngày mồng Tám tháng Hai năm Dân Quốc 48 (1959), nơi trang mười có chữ ()[18], đó là chữ gì vậy? Trang báo ấy nói chữ đó thuộc về ngoại đạo, xin hãy giảng nó thuộc loại ngoại đạo nào? Phái ngoại đạo nào dùng chữ ấy? Dùng nó để biểu thị điều gì? Tiên Thiên Đạo có phải là Nho giáo hay không? Sách Nho giáo có ghi chép hay không? Chép trong sách nào? Người đầu tiên sáng lập Tiên Thiên Đạo là vị nào? Tên là gì? Sáng lập như thế nào? Bắt đầu vào thời nào? Bắt đầu vào năm, tháng, ngày nào? Tôi hết sức muốn biết. Trước đây, tôi đã nghe lời giảng qua máy thâu âm, trong cuốn hạ bộ Tam Bảo Thái Giám, truyện Tây Dương có nói trưởng lão Kim Tý và Hỏa Mẫu Thần đấu pháp. Hỏa Mẫu Thần sang Lê Sơn, thỉnh Lão Mẫu xuống giúp. Vị Lão Mẫu ấy là đàn ông hay đàn bà? Có phải là vị khai sáng Tiên Thiên Đạo hay không? Lại có vị gọi là Diêu Trì Kim Mẫu[19], có phải là vị Lão Mẫu đó hay chăng? Hay là có một vị Lão Mẫu khác nữa? (Lâm Tú Diễm ở Nam Dương hỏi)

      Đáp: Đối với lời Ngài hỏi, phải tách ra để đáp.

     1. Chữ () là phù hiệu bí mật do tà giáo tự tạo ra, chỉ có bọn họ biết. Cư sĩ Phương Luân từng thử giải thích, chẳng biết họ có nói như thế hay không, cũng chẳng nhất định; nhưng đó là chuyện vô giá trị, chẳng đáng để quan tâm tới!

      2. Đối với câu hỏi “sách Nho giáo có chép về Tiên Thiên Đạo hay không?” Nho giáo tôn sùng Khổng Tử, Ngài là bậc thánh nhân được toàn cầu công nhận, sách của Ngài chánh đại quang minh, há có những chuyện tà ma như thế. Quý cư sĩ lầm tưởng bọn Tiên Thiên Đạo là Nho giáo, có thể nói là lăng nhục Nho giáo quá đáng!

      3. “Người đầu tiên sáng lập Tiên Thiên Đạo[20] là vị nào v.v...” Đây là do kẻ thiếu hiểu biết nhưng sẵn dã tâm, dùng lời lẽ yêu mị mê hoặc đại chúng sáng lập ra, tụ tán vô thường, danh tự biến đổi theo từng thời. Đại khái xa xôi tận thời Hán, bọn giặc Hoàng Cân Trương Giác v.v... rồi đến bọn Bạch Liên Giáo Hàn Sơn Đồng đời Nguyên, cho đến Nghĩa Hòa Đoàn Hồng Đăng Chiếu đời Thanh, đều là dư đảng của bọn chúng. Lúc bình thường, bất quá là dối gạt tiền của, đến lúc đầy đủ thế lực bèn làm phản, lịch sử đã thấy mấy lần chẳng ít. Nay tôi tặng ông cuốn Ám Lộ Minh Đăng (đèn sáng trong đường tối), trong ấy đã nói rất rõ rệt.

      4. “Trưởng lão Kim Tý, Hỏa Mẫu Thần, Lê Sơn Lão Mẫu” đều là chuyện tiểu thuyết quê kệch ở làng quê, toàn là đơm đặt, bịa chuyện, giống như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, há đáng tin là thật? Người còn chưa có, lấy đâu ra là đàn ông hay đàn bà?

     Phụ chú: Cư sĩ từ xa gởi thư đến hỏi, đáng kể là có lòng thành, phát tâm học Phật, cần nhận biết đường chánh. Nếu không, sai chỉ hào ly, lạc đường ngàn dặm, nên tặng riêng một gói sách nông cạn, mong ông hãy đọc, tin tưởng, sẽ có thể vào được cửa Phật thật sự.

 

* Hỏi: Ngoại đạo báng bổ Đại Thừa chẳng do đức Phật nói, chưa biết nên dùng lời lẽ nào để phá trừ? (Thái Thế Phương hỏi)

 

      Đáp: Ngoại đạo là đạo ở ngoài Phật giáo, thường gọi thông tục là “môn ngoại hán” (gã ở ngoài rìa). Loại người này về căn bản chẳng hiểu Phật pháp. Nếu cứ cố biện luận với họ, khác nào đàn gảy tai trâu, đâm ra ta cũng chẳng biết sẽ dẫn đến đâu. Khổng Tử có nói: “Bất khả dữ ngôn, nhi dữ chi ngôn, vị chi thất ngôn” (đối với kẻ chẳng thể nói được mà cứ nói thì gọi là phí lời). Vấn đề lớn như thế này, há dăm ba câu có thể giải quyết được ư! Mà cũng chẳng phải là căn khí hạ đẳng vừa nghe liền có thể liễu ngộ được! Cư sĩ gặp hạng người như vậy, chỉ nên hỏi họ học vấn so với tổ sư Vĩnh Gia là như thế nào? Liền nêu ngay câu trong Chứng Đạo Ca của tổ sư: “Dục đắc bất chiêu Vô Gián nghiệp, mạc báng Như Lai chánh pháp luân” (muốn khỏi chuốc lấy nghiệp Vô Gián, đừng báng chánh pháp của Như Lai) để khuyên lơn, đó là chẳng phá mà phá vậy!

 

      * Hỏi: Tượng Phật, Bồ Tát tôn quý nhất, do lâu ngày bị hư hoại, không thể dùng được, phải đổi tượng Phật mới, nhưng tượng Phật hư cũ phải xử trí như thế nào thì mới nên? Tôi sợ mắc phải tội lỗi, cầu đại đức chỉ dạy! (Tôn Diệu Tùng hỏi)

 

Đáp: Đối với chuyện này, cổ đức từng chủ trương: Một là có thể sửa chữa cho đẹp đẽ. Hai là nếu không thể tu bổ, hãy nên chôn nơi đất sạch, nhưng phải chọn chỗ không có người đổ bỏ thứ ô uế để chôn, đó là cách tốt đẹp. Những tượng gỗ hư nát đến cùng cực, cũng chẳng ngại chọn chỗ để thiêu đi. Sau đấy, chôn tro nơi đất sạch, hoặc đổ trong dòng nước sạch. Nói chung, chẳng mất lòng cung kính, cốt sao an lòng là được rồi!

 

* Hỏi: Xưa kia, Nhị Tổ Huệ Khả hướng về Đạt Ma tổ sư cầu pháp, vì sao phải chặt tay? Đang trong lúc chặt cánh tay ấy, há chẳng phải là máu tuôn không ngừng, thân người làm sao có thể chịu đựng nổi? Người mất máu há chẳng bị hôn mê ư? Cầu pháp nhiệt tâm là được rồi, cần gì phải chặt tay? Tôi có nghi vấn như vậy. (Trương Khoan Tâm hỏi)

 

Đáp: “Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ”, người thật sự biết quý trọng pháp, biết cơ duyên khó gặp, há có thể coi thường bỏ lỡ. Hãy nên biết cánh tay ấy, nếu chẳng phải là Nhị Tổ sẽ chẳng thể chặt được, chẳng gặp tổ Đạt Ma sẽ chẳng thể chặt! Công phu của Nhị Tổ đã sắp đạt đến cực đỉnh, chỉ còn kém một cấp; ngài Đạt Ma vốn ở chót đỉnh, chỉ cần chìa tay ra. Sát-na, vạn kiếp, dẫu đầu, mắt, não, tủy, vẫn chẳng đáng tiếc, huống gì một cánh tay! Khổng Tử nói:“Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ” (Sáng nghe đạo, tối chết cũng được). Nếu sáng đắc đạo, dẫu chết ngay trong buổi sáng ấy cũng chẳng có gì là không được, há còn yêu mến cái đãy da này? Nếu chưa đạt đến công phu như Nhị Tổ, dẫu gặp ngài Đạt Ma, chặt tay có ích gì? Đã đạt đến công phu như Nhị Tổ, nhưng nếu chẳng gặp được ngài Đạt Ma, chặt tay có ích gì? Do vậy, cánh tay ấy chẳng thể không chặt vậy!

 

      * Hỏi: Chiếu theo chế định của đức Phật, đệ tử tại gia và xuất gia (hoặc thầy truyền giới, hoặc thầy xuống tóc) đối với vị thầy quy y có phân chia vai vế, tức là xưng hô sư phụ, sư thúc, sư công, tổ... hay chăng? (Lưu Bảo Quốc hỏi)

 

      Đáp: Nếu bản thân vị thầy truyền tam quy, truyền giới, có quan hệ vai vế đã thuộc hàng trên, thì đối với họ gọi là sư tổ, sư bá, sư thúc, chẳng có gì là không được, vì mang ý nghĩa tôn kính, thân thiết. Nếu như vị thầy truyền tam quy, truyền giới có vai vế thấp hơn [hay ngang thế hệ với] ta, trọn chẳng thể gọi là anh, em, cháu, vãn bối v.v... vì người xuất gia đã dự vào Tăng đoàn, là một ngôi trong Tam Bảo, được xếp vào hàng thầy của trời người, chẳng thể dựa theo lễ nghi trong cõi tục để luận định vai vế.

 

      * Hỏi: Phật giáo là một trong tam giáo, nhưng sao trong văn tự phổ thông chỉ nói “Nho, Thích, Đạo tam giáo”; Thích giáo có phải là danh tự của Phật giáo hay chăng? Vì sao chẳng viết là chữ Phật mà lại viết là Thích? Xin giải thích lý ấy? (Diệp Di Dung hỏi)

 

      Đáp: Tiên sinh nói “văn tự phổ thông”, tôi chẳng rõ là nói đến loại văn tự nào! Kẻ hèn này hiểu “phổ thông” thì không gì bằng báo chí, kế đến là những bộ văn tập. Có thể nói hai loại này dùng chữ “Phật giáo” để ghi chép rất nhiều. Còn như Phật giáo thường được viết là Thích giáo, vì đấng giáo chủ nhà Phật có họ là Thích Ca; do vậy, cõi đời thường gọi là Thích giáo.

 

      * Hỏi: Thần trong hai giáo Nho và Đạo có phải là thần hộ pháp trong Phật giáo? Vì sao trong danh xưng tam giáo “Nho, Đạo, Thích”, Thích giáo lại được xếp cuối cùng, do người nào xếp đặt mà thành ra như vậy? Xin hãy giải đáp? (Diệp Di Dung hỏi)

 

Đáp: Phật giáo trọn chẳng công khai xếp thần của Nho và Đạo thành thần hộ pháp. Theo kinh Phật ghi chép, vô lượng chư thiên, thiên long bát bộ đều là thần hộ pháp, chắc là cũng có những vị [thần của Nho và Đạo] thuộc trong số ấy mà thôi! Đối với chuyện sắp đặt thứ tự là do người đời rảnh rang [nên bày ra đó thôi], chứ thật ra ai đi đường nấy, há có thứ tự gì để nói ai trước, ai sau, chỉ tùy tiện mà nói, chẳng đáng để bàn tới!

 

      * Hỏi: Liên quan tới các danh từ chuyên môn trong Phật học hoặc kinh Phật, Trung Quốc có thư tịch hoặc từ điển để giải thích hay không, hòng những kẻ mới tu tập Phật học tham khảo, ngõ hầu do đọc những chữ Phạn chẳng dễ hiểu đã được dịch sang tiếng Hán sẽ hiểu được ý nghĩa? (Lê Cẩm Huy, Lý Hán Ba, và Thiệu Ích Thanh hỏi)

 

      Đáp: Sách Phật học vô số[21], há lẽ nào chẳng có từ điển? Đã được xuất bản thì có Phật Học Tiểu Từ Điển, Phật Học Đại Từ Điển, Phật Học Thực Dụng Từ Điển, Pháp Tướng Từ Điển v.v.... Người học sử dụng Phật Học Thực Dụng Từ Điển là đủ rồi!

 

      * Hỏi: Người ta căn cứ trên truyền thuyết có thể biết đại lược về Tế Công Hoạt Phật[22], nhưng xét theo quả vị chánh tông trong nhà Phật, Ngài thuộc tầng cấp nào? Tình hình tu học lúc ban đầu và thành Phật sau này như thế nào? Xin hãy chỉ dạy cặn kẽ? (Lê Cẩm Huy, Lý Hán Ba, và Thiệu Ích Thanh hỏi)

 

      Đáp: Trong Cao Tăng Truyện, Tế Công thật sự chỉ có một vị mà thôi. Còn hết thảy những lời tuyên truyền trong đàn cầu cơ, phim ảnh và tiểu thuyết đều là “ngóng gió, bắt bóng”, đồn thổi, đơm đặt.

 

      * Hỏi: Trong Phật học, bộ phận liên quan đến thần học rốt cuộc có phân tích gì liên quan đến Phật giáo hay không? (Lê Cẩm Huy, Lý Hán Ba, và Thiệu Ích Thanh hỏi)

 

      Đáp: Phật giáo có kinh điển phong phú, nên có thể gọi là Phật học. Còn như hỏi về thần học thì chưa rõ là nói đến vị thần như thế nào? Sách vở nào? Không có cách nào giải đáp được!

     

      * Hỏi: Do Sự Lục Độ tấn tu cảnh giới Lý Lục Độ, Lý Lục Độ chỉ điều gì? Giải thích như thế nào? Lại nữa, xin hãy nói về đại ý và nội dung của Thập Tụng Luật trong Luật Học? (Lê Cẩm Huy, Lý Hán Ba, và Thiệu Ích Thanh hỏi)

 

      Đáp: Sơ cơ chẳng thể hiểu Sự Lục Độ và Lý Lục Độ; nếu đáp, sẽ càng khiến cho [người hỏi] càng thêm mờ mịt. Trước hết, cư sĩ có thể thỉnh một cuốn Từ Điển để nghiên cứu, sau một thời gian, sẽ tự nhiên hiểu rõ hai chữ Sự và Lý. Kẻ hèn này chẳng mong do bớt việc mà trả lời, rất sợ sẽ nẩy sanh hiểu lầm, đâm ra khiến [người nghe bị] mắc hại. Lục Độ là sáu thứ pháp môn, hành theo đó có thể vượt đến bờ kia. Sáu pháp ấy là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Thập Tụng Luật[23] là một bản kinh, đại khái nói tới những chuyện trong giới luật; nhưng nếu chưa đọc sách ấy, dẫu có nói nội dung [thì người nghe] cũng ngơ ngác.

 

      * Hỏi: Sám hối chia thành hai loại Lý Sám và Sự Sám, sao gọi là Lý Sám? Nếu muốn sám hối, ngồi ngay ngắn nghĩ đến Thật Tướng (Thật Tướng chính là vô tướng, vô bất tướng) thì cách niệm ra sao? (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

      Đáp: Sự Sám là đối trước Phật, hoặc thỉnh cao tăng đại diện cho Phật, hoặc tự mình chiếu theo các thứ sám pháp, như Đại Bi Sám, Tịnh Độ Sám, Lương Hoàng Sám, Thủy Sám v.v... cung kính tự sám hối. Nếu chẳng thể, nhưng trọn đủ lòng chân thành, hướng về Tam Bảo bày tỏ lỗi mình, lập thệ sau này chẳng làm nữa, [làm như vậy] cũng chẳng phải là không được! Đó gọi là Sự Sám. Lý Sám hướng đến cái tâm để quan sát, do tội từ tâm khởi. Khi quán thấy vọng niệm đều Không, Thật Tướng sẽ hiện tiền, tâm và tội đều Không, đó gọi là Lý Sám. Niệm Thật Tướng là quán chiếu Thật Tướng, chứ không phải là dùng miệng để niệm tụng.

 

      * Hỏi: Trong Liên Hữu Thông Tín có chép chuyện ông Hoàng Hàm Chi sáng tối thay mẹ sám hối khiến mẹ có thể ăn chay. Do chồng của học trò không chỉ chẳng tin Phật, mà còn ngược ngạo oán trách nói tôi do tin Phật, chẳng ngó ngàng tới gia đình. Anh ta còn muốn sát sanh, học trò tính vì anh ta sám hối, mong cho anh ta sẽ tin Phật, kiêng giết, cách sám hối thay cho người khác là như thế nào? (Lâm Khoan Tu hỏi)

 

      Đáp: Sám hối thay cho người khác, ắt phải cậy vào chỗ đôi bên đều có lòng tin, cảm ứng sẽ nhanh hơn. Hai người chí hướng khác nhau, cảm ứng khá chậm. Cách sám hối cũng giống như trên. Trừ điều đó ra, lại càng phải nên trong nhà trọn hết luân thường, toàn vẹn bổn phận, làm khuôn mẫu cho cõi đời, khiến cho mỗi người trong nhà sanh lòng thân thiết, kính trọng mình. Đấy cũng là một cách để nhiếp thọ, khuyến hóa. Hành cả đôi đàng, lâu ngày chầy tháng, sẽ có thể chuyển biến tâm anh ta.

 

      * Hỏi: Nghe nói Quán Thế Âm Bồ Tát là hậu bổ Phật của A Di Đà Phật, đợi đến khi A Di Đà Phật nhập Niết Bàn sẽ nối ngôi làm Phật. Do đệ tử ngu muội, chẳng hiểu Lý, trở về nhà, suy nghĩ khá lâu: Phật đã chứng đắc bất sanh, bất tử, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, đã đạt đến cực quả; cớ sao vẫn phải nhập Niết Bàn? Đấy có phải là ý nghĩa thoái vị hay chăng? Con lại không biết trạng huống nhập Niết Bàn ở Tây Phương như thế nào? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Phật có ba thân, há đức Di Đà lại riêng là ngoại lệ!

1. Tự Tánh Thân là Pháp Thân, không khởi đầu, không kết thúc, là tướng vô sanh diệt.

2. Thụ Dụng Thân, thân này chia thành hai: Một là Tự Thụ Dụng Thân, tức Báo Thân, cũng chẳng có tướng sanh diệt. Hai là Tha Thụ Dụng, tức Thắng Ứng Thân.

3. Biến Hóa Thân, tức Liệt Ứng Thân, đều tùy duyên mà hiện hay ẩn. Nói “Di Đà nhập Niết Bàn” là nói tới Thắng Ứng Thân tức Tha Thụ Dụng Thân của Ngài.

 

* Hỏi: Theo sự tích thuở đức Thế Tôn trụ thế, Đề Bà Đạt Đa là kẻ tử thù của Phật. Chiếu theo kinh luận để nói, ông ta là một đại tội nhân đã làm thân Phật chảy máu, tội đáng đọa địa ngục A Tỳ, vì sao đức Phật vẫn gọi ông ta là thiện tri thức? Có phải là có đối tượng thiện ác thì mới có thể hiển lộ sức thần thông của Phật hay chăng? (Giang Khoan Ngọc hỏi)

 

      Đáp: Trong thời đức Phật trụ thế, Đề Bà Đạt Đa từng tạo tội nghịch, đọa địa ngục trong khi còn sống; nhưng khi nghiệp ấy hết, sẽ nương theo công đức tu tập từ trước mà thành Phật, hiệu là Thiên Vương Như Lai. Theo như kinh Pháp Hoa chép, trong nhiều kiếp trước, đức Thế Tôn vì cầu đại kinh Pháp Hoa, gặp A Tư tiên nhân, mới được trao truyền. Vị A Tư tiên nhân thuở ấy chính là Đề Bà Đạt Đa hiện thời; vì thế, đức Phật gọi ông ta là thiện tri thức.

 

      * Hỏi: Như kinh Địa Tạng đã nói, lúc tĩnh tọa và mạng chung, cũng có trăm ngàn quỷ thần trong ác đạo biến thành cha mẹ, dẫn dắt người ấy đi vào ác đạo. Tới lúc đó, chẳng phân biệt chân ngụy. Lại còn có Phật, Bồ Tát hiện tiền, nếu ngỡ là Phật, sợ lầm lỡ tương lai, nếu nghĩ là ngụy, lại sợ bỏ mất cơ hội lớn, rốt cuộc phải dùng phương pháp nào để ứng phó, xin hãy chỉ dạy! (Hoàng Hàm hỏi)

 

      Đáp: Chuyện tiếp dẫn lúc mạng chung chẳng phải chỉ có một. Có trường hợp tiếp dẫn về cõi Phật, người đến tiếp dẫn là Phật và Bồ Tát. Có trường hợp tiếp dẫn sanh vào thiên đạo, người đến tiếp dẫn là thiên chúng. Có trường hợp tiếp dẫn vào thần quỷ đạo nhậm chức, người đến tiếp dẫn nhất định thuộc loại thần quỷ. Cha mẹ mỗi người đến tiếp dẫn, trước hết, cần phải biết cha mẹ hiện đang thuộc trong đường nào thì mới có thể phán định là thăng hay đọa. Nhưng cha mẹ đến tiếp dẫn, có thể đoan quyết chẳng phải là về cõi Phật. Đã là như thế, cần gì phải hỏi là chân hay ngụy, vì chân hay ngụy thì cũng đều là đọa lạc. Đối với câu hỏi trong đoạn sau, người tu Tịnh nghiệp là “nhân như thế nào, quả như thế nấy”, nên chân thật sẽ là mười trường hợp hết tám chín phần, ngụy thì ngẫu nhiên có một hai trường hợp mà thôi! Người tu các phương pháp khác, nếu quả chẳng giống nhân thì cần phải biện định chân ngụy thật rành rẽ!

 

      * Hỏi: Theo nghi thức trước kia, hỷ sự là “hạ nghi” hoặc “phỉ nghi”, đối với sư trưởng là “chí nghi”[24], nhưng sau khi quy y pháp sư, nên viết “nghi” gì? Xin hãy dạy cách thức để tôi kính vâng làm theo! (Hoàng Hàm hỏi)

 

      Đáp: Đối với điều này chưa hề nghe nói có quy định thành văn, chỉ nên thuận theo thói tục nói sao cho suông tai là được rồi! Đối với chuyện quy y, kính dâng lễ vật, cũng cần phải xét theo chuyện để gọi tên thì mới thật phù hợp. Nếu chỉ biếu tặng lễ vật thông thường, chỉ nói là “cúng dường” hoặc “quả nghi” (菓儀) dường như cũng ổn thỏa.

 

      * Hỏi: Mấy năm qua, đệ tử chuyên tu Tịnh nghiệp, lần trước chợt muốn xin bỏ Tịnh để học Thiền, nguyên nhân là do đọc sách Truyền Tâm Pháp Yếu, trang hai mươi bảy nói: “Đó là Bồ Tát hữu ý sanh thân, chợt giống như chưa thấu hiểu vô tâm, chấp tướng mà làm, đều thuộc về ma nghiệp, thậm chí làm những Phật sự Tịnh Độ đều trở thành nghiệp, đó gọi là Phật chướng. Do chướng ngại cái tâm của ông, nên bị nhân quả ràng buộc, chẳng được tự do. Vì thế, các pháp như Bồ Đề v.v... vốn chẳng phải là có. Những lời Như Lai đã nói đều nhằm dạy con người. Ví như lấy lá úa vàng, bảo là vàng, để tạm dỗ trẻ nhỏ nín khóc, chứ thật sự chẳng có pháp ấy, nên gọi là A Nậu Bồ Đề”. Lại nữa: “Vì thế, kinh nói ‘Các cõi nước của chư Phật cũng đều là Không’. Nếu nói Phật đạo là do tu học mà đạt được thì hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến kiến giải như thế”. Lại nói: “Chỉ có đạo Nhất Thừa, những thứ khác đều chẳng thật. Như Lai thị hiện trên cõi đời, muốn nói pháp Nhất Thừa, nhưng chúng sanh chẳng tin, báng bổ, chìm đắm trong biển khổ, nên lập ra phương tiện nói có ba thừa. Thừa có lớn hay nhỏ, chứng đắc có cạn hay sâu, đều chẳng phải là pháp này!” Lại như kinh Kim Cang Bát Nhã dạy: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy Như Lai”. Lại nữa, Lục Tổ Đàn Kinh có câu: “Nếu nói quy y Phật, Phật ở chỗ nào?” Lục Tổ giảng giải cặn kẽ: “Quy y Giác, quy y Chánh, quy y Tịnh, chớ nên dùng lầm cái tâm”. Ngoài ra còn có rất nhiều chỗ đáng chú ý, quả thật là không có thầy chỉ dạy, tôi đọc những câu văn như trên đây, chẳng hiểu ý nghĩa rốt ráo ra sao, kính xin chỉ dạy. (Trịnh Quân Hải hỏi)

 

      Đáp: Căn cơ chúng sanh có lợi căn và độn căn, nên Phật pháp nói có Quyền và Thật. Vì thế, cách tu chia ra thành Tiệm và Đốn, chứng đắc chia thành Đại và Tiểu. Sự đã phức tạp như thế, nên phải giáo hóa lắm cách. Bất đắc dĩ nên mới giáo diễn thành năm thời, chia thành tám vạn bốn ngàn pháp môn, quả thật môn nào cũng tương thông, pháp nào cũng nhất quán, nhất quyết chẳng lẽ nào mâu thuẫn lẫn nhau. Càng chẳng có sai khác, pháp này cao, pháp kia thấp. Những lời cư sĩ đã dẫn phần nhiều thuộc về giáo pháp thời thứ tư, tức thời Bát Nhã, nhằm nói với người lợi căn thượng thừa. Nếu nói với kẻ chẳng hiểu rõ giáo tướng hoặc nói với kẻ sơ học chưa được khai tâm vỡ lòng, chắc chắn họ sẽ chẳng hiểu, hoặc do dựa theo văn tự suy đoán ý nghĩa, sợ rằng Lý lẫn Cơ đều chẳng khế hợp. Nếu cư sĩ vẫn ưa thích những thứ đó, ắt phải cầu danh sư trực tiếp dạy bảo. Nếu không, sai chừng hào ly, lạc xa ngàn dặm, chuốc lấy ương họa vậy!

 

      * Hỏi: Gần đây, sư phụ Sám Vân đã đến tinh xá ở nơi đây làm lễ phổ Phật[25] một ngày, cũng như truyền quy y, ngũ giới. Lúc ấy, tôi vốn muốn thọ giới, nhưng Tứ Đại chẳng điều hòa, thường bị hen suyễn, bệnh tật đã lâu chẳng lành, chẳng thể ăn chay trường. Nếu thọ giới chẳng sát sanh thì phải ăn chay trường. Do vậy, tạm thời chưa thọ giới. Hiện thời, mỗi tháng tôi ăn chay mười ngày, và tụng kinh Địa Tạng. Lại do mắc bệnh hen suyễn, suốt mấy chục năm qua, chỉ dốc hết tiền bạc vào thuốc men chữa chạy, rốt cuộc chẳng thấy công hiệu gì. Tôi còn thường đối trước Phật khẩn thiết sám hối túc nghiệp, bệnh cũng chẳng bớt. Nay đã sơn cùng thủy tận (hết còn cách nào), nếu đại đức có phương pháp tốt lành nào để chỉ dạy thì may mắn lắm thay! Kế nữa, tôi đọc cuốn Bệnh Hoạn Chỉ Nam do pháp sư Chử Vân biên soạn, có nói nước Đại Bi do phu nhân Châu Bang Đạo ở Đài Trung trị bệnh rất linh nghiệm, nhưng tôi chẳng quen biết Châu Thái Thái, xin ngài Bỉnh Nam hãy thay tôi thỉnh cầu bà ta gởi cho tôi nước Đại Bi để uống thử xem. Nếu uống nước Đại Bi được lành bệnh, tôi sẽ liền phát tâm thọ giới để báo ân Phật. (Trịnh Quân Hải hỏi)

      Đáp: Thọ giới quý ở chỗ đắc giới. Chuyện này do phát khởi chân tâm sám hối, chân tâm mới có thể chuyển cảnh. Tâm nghi sẽ thường bị cảnh chuyển. Theo kẻ hèn này biết, muốn cầu quả, ắt phải gieo nhân. Trong kiến giải của cư sĩ, muốn được quả trước rồi mới gieo nhân sau. Quan điểm như thế, chẳng biết như thế nào mới là đúng, vẫn phải xin ông hãy suy xét. Còn như chuyện xin nước Đại Bi của Châu cư sĩ, tôi sẽ tuân mạng, chuyển lời.

 

      * Hỏi: Sau khi đức Thích Tôn diệt độ, có phải là vẫn trụ trong một tầng trời của thế giới Sa Bà, mà tầng trời ấy có phải là Tịnh Độ hay không? Đệ tử Phật có nên cầu sanh lên tầng trời ấy hay không? (Thái Thế Phương hỏi)

 

      Đáp: Pháp Thân của Thích Tôn vô tướng, tận hư không, khắp pháp giới, không đâu chẳng tồn tại, chẳng thể chỉ nhất định một tầng trời nào. Nếu nói phương tiện, Sa Bà là uế độ, chúng sanh nghiệp nặng, chướng sâu tự nhiên sanh vào đấy. Bậc thánh triết thời xưa đã nói: “Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà”, còn quý báu nỗi gì mà sanh vào cõi này? Nhưng người tu Tịnh nghiệp thành thục, vãng sanh Tây Phương đắc quả rất đông, đa số phát nguyện trở lại, cũng chuyên vì lòng từ bi độ chúng sanh mà thôi!

 

* Hỏi: Tương lai khi Phật Di Lặc hạ sanh trong thế giới Sa Bà, có thể đồng thời gọi thế giới này là Thích Ca Mâu Ni Phật quốc và Di Lặc Phật quốc được không? (Thái Thế Phương hỏi)

 

      Đáp: Vị Phật nào đang xuất hiện, sẽ gọi là cõi nước của vị Phật ấy. Giống như cõi nước của đế vương trong thế gian, đổi thành một vị đế vương mới thì tên của triều đại cũng sửa đổi theo.

 

      * Hỏi: Trong tháng Bảy nên trì tụng kinh Địa Tạng, nhưng do việc nhà bề bộn, kinh văn lại dài, chẳng thể tụng xong một lúc được, hiện thời có thể sửa thành tụng niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát để hồi hướng cho lịch đại tổ tiên và kẻ oán, người thân được siêu thăng hay chăng? (Trần Vỹ Anh hỏi)

 

      Đáp: Thánh nhân thế gian còn răn dạy con người “kính thờ, tin tưởng”; đối với Phật pháp, càng phải nên cung kính. Kinh phải tụng cho hết thì mới nên. Nếu nẩy sanh chướng ngại, chẳng thể tụng hoàn tất, hãy đợi có dịp để tụng bù cũng được. Nếu chẳng thể thì đổi thành trì thánh hiệu Địa Tạng cũng chưa hề chẳng phải là phương tiện, nhưng chớ nên thường theo lệ ấy. Đối với việc báo đáp ân tổ tiên, hết thảy công đức đều có thể hồi hướng, tụng kinh, niệm thánh hiệu, không có gì chẳng được!

 

      * Hỏi: Nói “tùy hỷ công đức” thì có phải là nói về công đức niệm Phật hay không? Giả sử người khác ưa thích thứ gì đó, chúng ta có nên thuận theo lòng họ, để thỏa lòng họ. Ví dụ như đối với những sự vật họ ưa chuộng, tôi thật sự cảm thấy rất chán ghét, nhưng vẫn phải tùy hỷ khen ngợi y như cũ ư? Bởi lẽ, có lúc tôi cũng thường bị người ta chỉ trích vô lý: “Ngôn hạnh của những kẻ tin Phật các ngươi toàn là theo kiểu đó!” vì chúng tôi chẳng thuận theo họ mà đến nỗi ấy. Nghe những lời lẽ kiểu đó, trong tâm tôi chưa hề bực bội, nhưng lại thiếu năng lực biện luận, mà cũng chẳng muốn tạo khẩu nghiệp sâu đậm. Trong tình huống như vậy, nên xử lý như thế nào? (Trần Vỹ Anh hỏi)

 

      Đáp: Tùy hỷ công đức, nói “tùy hỷ” thì ắt phải thuộc vào chuyện công đức, nhưng điều này lại chia thành hai loại: Một là pháp thế gian, trọn hết luân thường, vẹn hết bổn phận, và các thứ từ thiện đều thuộc về loại này. Hai là pháp xuất thế gian, phàm hoằng pháp, hộ pháp, lễ Phật, cúng Phật, tự hành, hóa tha v.v... đều thuộc về loại này. Chuyện người khác, bất luận là điều thiện thế gian hay xuất thế gian, đều nên tùy hỷ công đức, đó gọi là “vâng làm các điều thiện”, là điều chư Phật dạy. Cũng chớ nên ôm lòng chán ghét, càng chẳng nên dò xét lời lẽ và sắc mặt kẻ khác [để nói hùa theo cho họ vui lòng]; nếu là như vậy sẽ là ác hay thiện đều tùy hỷ tuốt! [Làm đúng như những điều trên đây] sẽ gọi là “tùy hỷ công đức”, chẳng phải là tùy hỷ tràn lan những điều chẳng thiện mà có công đức đâu nhé!

 

      * Hỏi: Lần đầu nghe kinh, gặp đại thiện tri thức diễn giảng Phật lý mười phần tuyệt diệu viên mãn, thấu triệt, nhất thời sanh lòng tin sâu xa, dần dần xem đọc kinh Phật, bèn cảm thấy trong Phật giáo vẫn còn giữ không ít những sắc thái mê tín. Tuy vậy, Phật lý hoàn mỹ, trọn chẳng phải vì lẽ đó mà bị giảm tổn, như người ăn gạo, bỏ những hạt cỏ dại, cám, cát, đá, trọn chẳng giảm thiểu giá trị dinh dưỡng của gạo; nhưng những sắc thái mê tín ấy [giống như] hạt cỏ dại, cám, cát, đá, toàn là những thứ thừa thãi đối với tác dụng của sự vật. Chẳng hạn như nói Phật Thích Ca sanh từ hông mẹ, đi bảy bước, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất v.v... Thời gian qua đi như nước chảy, hơn hai ngàn năm trăm năm chưa thể coi như quá lâu xa. Đối với thuở ấy, kỳ tích còn chấp nhận được, nhưng đối với lòng người hiện thời sẽ thành vấn đề. Đức Phật thị hiện làm người trong thế gian, dùng cái thân Tứ Đại, từ trong bình phàm để hành, chứng đạo lý chẳng bình phàm. Đấy là lý do vì sao Phật là Phật. Nếu bàn đến những điều lạ lùng khi Phật ra đời, hoặc nói tới những chuyện kỳ lạ do Ngài hiển hóa, cố nhiên chẳng có ảnh hưởng tăng hay giảm đức năng của Phật, nên cũng chẳng so đo! Hiện thời, tín đồ Phật giáo thường thích dẫn những điều huyền kỳ dị tích của đức Phật hòng tuyên truyền cho đắc lực, trong các chúng sanh, kẻ khá có thiện căn sẽ tự có thể ăn gạo, gạt bỏ cám, hạt cỏ. Nếu là kẻ chấp vọng thức sẽ liền do cám, hạt cỏ mà chán ngán, chẳng muốn ăn gạo; như vậy thì sắc tín mê thái ấy sẽ giống như hòn đá buộc chân Phật! Bản thân tôi học cạn, nghe ít, chẳng thể hiểu rành rẽ [vì sao Phật giáo] tiếp tục sử dụng sắc thái [mê tín], cũng mong sẽ được giải thích thích đáng! (Quách Như Nam hỏi).

 

      Đáp: Tiên sinh do thấy sử truyện chép Thích Tôn giáng sanh từ hông mẹ, bảo đó là sắc thái mê tín, vấn đề này khá phức tạp, chẳng thể nói đơn giản vài câu mà trọn hết được, nêu đại lược vài đầu mối như sau:

1. Kinh điển Đại Thừa thường là không như vậy, [nhưng nhận xét như vậy đối với] kinh điển Tiểu Thừa thì hãy còn những chỗ quá đáng. Nguyên cớ là vì đức Phật thuyết pháp, có lúc nói với hàng Bồ Tát, có khi nói với hàng Thanh Văn, Duyên Giác, có lúc nói với trời, người, có lúc nói với kẻ lợi căn hay độn căn, có lúc nói với hàng ngu phu ngu phụ, chúng sanh vạn loại, nên Phật pháp nhiều môn, giống như một món thuốc trị được một chứng bệnh. Nếu chấp vào một món thuốc, chỉ coi món thuốc ấy là trân quý; giống như nhân sâm trong Trung Y, bất luận bệnh nào đều nhất loạt cho uống nhân sâm, chẳng giết chết người cũng hiếm hoi lắm!

2. Những sự tích huyền bí, lạ lùng, chẳng khiến cho Phật đức bị tăng hay giảm, cao luận của Ngài cũng là đường đường chính chính, nhưng cũng có những chỗ quyền biến. Nếu người thuyết pháp chẳng quan sát đối tượng, nói thuần chánh hoặc thuần quyền, sẽ đều chẳng khế cơ; phàm những cách nói như vậy đều trở thành những lời lẽ thừa thãi vậy! Chúng sanh ngàn muôn sai khác, có người thích chuyện này, có kẻ ưa điều nọ, pháp tắc chẳng thể nêu lên một, bỏ cả trăm. Hơn nữa, Ngũ Dục tuy là cội rễ sanh tử, bị Phật quở trách, nhưng có lúc vẫn phải dùng nó để nhiếp thọ chúng sanh. Đó gọi là “tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí” (trước hết dùng dục để lôi kéo, sau đấy khiến cho họ nhập Phật trí), có thể thấy mọi mặt đều chu đáo vậy!

3. Sắc thái mê tín vốn mang tánh chất thời gian, có những điều trước đây chẳng nghĩ là mê tín, gần đây lại coi là mê tín; không chừng sau này lại biến thành chẳng mê tín. Nói theo hiện thời, nếu [những điều mà ông] tự coi là mê tín, hãy tránh né chẳng bàn tới, cũng chẳng phải là không được!

4. Thiên Ngũ Hành Chí trong Minh Sử có chép: “Long Khánh ngũ niên nhị nguyệt, Đường Sơn dân phụ, sanh nhi tùng tả hiếp xuất” (Tháng Hai năm Long Khánh thứ năm (1571), một phụ nữ thường dân ở Đường Sơn sanh con từ hông trái). Kỳ lạ hơn nữa, thiên Ngũ Hành Chí của Minh Sử chép: “Gia Tĩnh tứ niên, Hoành Kính nông Khổng Phương, hiếp hạ sản nhũ khối, phẫu thị chi, nhất nhi uyển nhiên” (Năm Gia Tĩnh thứ tư (1525), một nông dân ở Hoành Kính là Khổng Phương, dưới hông sanh ra một khối thịt, mổ ra xem, rành rành là một đứa trẻ ở trong đó). Những điều này đều được chép trong chánh sử. Nếu không có chuyện ấy, sao lại được chép vào sử. Bảo là kỳ dị thì được, chứ bảo là mê tín thì kinh sử đều bị phủ nhận hết!

 

* Hỏi: Ngũ Tổ trao truyền y bát, nửa đêm truyền tâm, Lục Tổ đắc pháp bỏ trốn ngay trong đêm khuya. Y bát có thể quyết định tư cách tổ sư, rõ ràng là vật chứng minh thuộc về danh tướng. Do thuở ấy, những vị đại pháp sư đạo hạnh như Thần Tú v.v... trọn chẳng tiếc nuối, liều mạng dấy lên tranh chấp trong nội bộ, không chỉ là đạo tâm chưa tịnh, mà còn là trái nghịch sâu xa gia pháp của Ngũ Tổ. Còn như Lục Tổ có căn cơ thiên phú như thế, dẫu mất y bát cũng trở thành Lục Tổ đâu bị trở ngại gì, thế mà biết khó khăn vẫn chẳng lùi, nguyện dấn mình vào cuộc tranh đoạt tưng bừng. Nho gia Trung Quốc giáo hóa tìm kiếm lẽ thật ở ngay nơi cảnh, nhường nước cho người hiền, xả thân thành nhân, đời nào cũng thấy. Lục Tổ là bậc Bồ Tát đã vượt thoát tam giới, sao lại thấy biết nhỏ nhặt nơi hình tướng để rồi tranh giành y bát, thân là đồ đệ đời sau của Phật, lật đổ khuôn phép ngàn năm của cổ đức, quả thật đã phạm tội lỗi! Nhưng chân lý đại đạo quả thật chẳng lật đổ được, chẳng ngại tìm hiểu cặn kẽ. Tự biết chính mình có chỗ hiểu biết chẳng tường tận, mong bậc đại thiện trưởng giả phân tích. (Quách Như Nam hỏi)

 

Đáp: Y bát đích xác thuộc về danh tướng, nhưng Tam Tạng mười hai bộ há chẳng phải là danh tướng ư? Đây quả thật là vì nghĩ đến lợi ích chúng sanh, thuận theo thói đời, lấy những vật ấy làm chứng hòng dễ nhiếp thọ, nhưng thật sự chẳng dính dáng gì đến Tánh Thể của chính mình. Sự việc lâu ngày trở thành thói tệ, vì thế, sau đấy chẳng tiếp tục truyền nữa. Tâm Lục Tổ chỉ nhằm truyền đăng lợi ích chúng sanh, gặp việc nhân chẳng nhường, chẳng phải là chuyên tranh đoạt địa vị Tổ. Trong trí cảnh của Lục Tổ, Phật còn chưa thể được, há còn hí hửng đối với địa vị Tổ ư? Còn hành vi của những người như Huệ Minh v.v... cũng chẳng phải do Thần Tú đại sư sai bảo, chớ nên hiểu lầm! Như cuộc tranh chấp giữa họ Vương và họ Lục[26] [đối với Châu Hy] trong các nhà Lý Học cũng là do người thuộc hai trường phái tu dưỡng chẳng đủ, khuấy đảo mà thành đó thôi!

 

* Hỏi: Tánh tôi vốn mềm mỏng, nhưng tôi chẳng ưa thấy những động vật nhỏ bé bay chạy trông rất kinh hoảng, nên thường vô ý tổn hại chúng nó. Từ bé, tôi rất sợ gián. Ở Đài Loan khổ nhất, giống này đặc biệt nhiều. Chỗ tôi ở, chúng thường bay vù vù trong không khí, giống như bom nguyên tử chặn đầu, khiến cho tôi sợ hồn phi phách tán, tạo thành sức uy hiếp khôn sánh, tự nhiên vung tay đập chết. Người nhà biết sát nghiệp đáng sợ, hễ thấy gián liền tranh nhau đuổi chúng đi, nhưng mỗi lúc hoàng hôn, chủ nhân chưa nâng đũa, loài động vật nhỏ ấy đã vội vàng, chẳng đợi đến lúc tàn bữa ăn, những cái chân lông lá đã bò lên bàn ăn. Tình hình bị quấy nhiễu ấy khiến cho người ta ăn ngủ khó yên. Có người nói trong nhà quét dọn sạch sẽ, các loài trùng bọ sẽ ít đi, nhưng áp dụng cách ấy, chỉ có riêng đối với loài gián là chẳng thấy hiệu quả gì. Túc thế oán nghiệp đường hẹp gặp gỡ, chẳng biết còn có phương pháp nào để giải trừ hay chăng? (Quách Như Nam hỏi)

 

      Đáp: Loài gián vốn sợ người. Trong nhà sạch sẽ, chẳng trữ đồ ăn, loài trùng ấy sẽ tự tránh xa. Nếu thấy nó đâm sợ, dùng chổi phủi nhẹ, chúng nó sẽ tự tránh đi; quả thật chúng nó chẳng có oai lực [đe dọa kinh khủng] như ông đã nói. Tư tưởng của tiên sinh đã tiến rất xa, hễ chẳng chấp tướng, sẽ dần dần trừ được tập khí sợ hãi. Cầu cách giải trừ bên ngoài, sao bằng cầu giải trừ trong tâm?

 

      * Hỏi: Các giáo dùng pháp nào để chứng minh con người có linh hồn? Đối với linh hồn, vì sao lại có những cách nói khác nhau? (Hoàng Thánh Hống hỏi)

 

      Đáp: Giáo có tà, chánh, Lý có sâu, cạn. Lý sâu, giáo chánh thì còn có mấy phần tương tự, còn Lý cạn, giáo tà, đa phần là kẻ lòa bàn luận các ngôi sao, gã điếc giảng giải âm nhạc, bất quá hý luận mà thôi, đâu có thời gian rảnh rỗi để tranh cãi với họ! Trong sách Nho, kinh Dịch có câu: “Du hồn vi biến”, Phật học chỉ nói “thần thức”, chẳng nói “linh hồn”; nhưng thần thức và linh hồn nói về cùng một thứ, chỉ là gọi tên khác nhau. Nhà Phật truy cầu cội gốc, nên gọi là Tánh. Tánh ấy lúc mê thì là thần thức, tức là cái được gọi là “linh hồn” trong các giáo khác. Hồn đã bị mê, nên sanh tử đầu thai, luân chuyển lục đạo. Tánh là trí, cho nên bất sanh, bất diệt, muôn kiếp thường tịnh.

 

      * Hỏi: Các giáo đối với con người sau khi đã chết có cách nhìn khác nhau như thế nào? (Hoàng Thánh Hống hỏi)

 

      Đáp: Có giáo nói con người chết đi thành quỷ; có giáo nói làm lành sẽ thành thần; có giáo nói làm lành sẽ sanh lên trời, có giáo nói làm lành sẽ thành tiên. Lại còn nói quỷ, thần, thiên, tiên v.v... đều tồn tại vĩnh hằng. Có kẻ nói người chết lại làm người, loài vật chết lại biến thành loài vật. Trong Phật pháp, những ngôn thuyết giống như vậy được gọi là Thường Kiến. Những kẻ chẳng tin tôn giáo, chẳng tin có linh hồn, được gọi là Đoạn Kiến, nói chung là “gãi ngứa ngoài giày”. Phật pháp tuy cũng nói kẻ làm lành sẽ chuyển sanh trong nhân thiên, kẻ làm ác chuyển sanh trong tam đồ, nhưng đều có thời gian, chắc chắn chẳng vĩnh hằng. Chỉ có kẻ tu vô lậu pháp, chuyển thức thành trí (tức là chuyển hồn trở thành bổn tánh) mới đạt được bất sanh bất diệt.

 

      * Hỏi: Trên thế giới có phải chỉ là có mấy tôn giáo trước mắt hay chăng? Trong tương lai, có thể là lại có người sáng lập một tôn giáo mới hay chăng? (Hoàng Thánh Hống hỏi)

 

Đáp: Há phải chỉ trong tương lai sẽ sáng lập tôn giáo mới, ngay trong hiện tại, đã bí mật có ngàn kỳ trăm quái, chẳng biết là bao nhiêu. Chẳng qua chính phủ cấm đoán, nên họ chẳng dám công khai lộ diện. Lại nói đến chuyện cống hiến thì tôn giáo ắt phải thật sự triệt để dứt khổ ban vui cho chúng sanh thì mới tất yếu được sùng phụng. Nếu nghĩa lý lệch lạc, tà vạy, khiến lòng người bị mê hoặc, ngu xuẩn, nhiễu loạn xã hội, phá hoại quốc gia v.v... thì có ích gì?

 

* Hỏi: Có người được mời đến làm việc ở chỗ khác, ngồi xe được nửa đường bị hư, người ấy tự biết không lành, nhưng hiềm rằng bị ép đi tiếp, khi đến được nơi công tác, bị dao chém đến tận xương, hối chẳng kịp. Kiểu chỉ dạy ngấm ngầm không lời ấy, đối với Phật pháp, thuộc về Mật Tông hay là Thiền Tông. (Ông Huệ Hân hỏi).

 

Đáp: Sao chổi hiện, đất nước loạn lạc, Hoàng Hà trong, thánh nhân sanh, đó gọi là: “Sắp hưng vượng, ắt có điềm tốt lành. Sắp tiêu vong, ắt có yêu nghiệt”. Sử sách thế gian có ghi chép những chuyện giống như vậy. Hai tông Thiền và Mật trong Phật giáo đều nói đến pháp tu trì, chẳng bàn đến những điềm báo tốt xấu. Những chuyện giống như thế chẳng dính dáng gì tới Thiền, mà cũng chẳng liên quan đến Mật.

 

* Hỏi: Trong Phật học gọi không gian là “mười phương”, coi thế giới Sa Bà là cốt lõi, giả gọi những thế giới chung quanh là “trên, dưới, bốn phương, bốn góc”. Nhưng học trò cho rằng chỉ nói mười phương, dường như hiềm rằng chẳng nói trọn hết hư không. Thử dùng vật thể ba chiều trong không gian phẳng thì tợ hồ chẳng có bốn góc, bởi trên, dưới và bốn phương đều có thể hợp thành một góc cạnh. Vì thế, giả thiết là còn có nhiều phương hướng để nói. Nếu thêm hình nón có ba mặt, hoặc vật thể hình cầu để luận thì phương hướng càng biến hóa khôn lường. Chẳng rõ là cách thấy hẹp hòi ấy có đúng hay là không? (Quách Gia Ninh hỏi)

 

Đáp: Kinh văn nhà Phật chia ra thành tổng tướng và biệt tướng để nói. Nói “mười phương” chính là nói đến tổng tướng, nhưng [nói] “phương” thì cũng là chưa tính đến hạn độ. Trong kinh có nói “hư không vô tận”. Đã là vô tận há còn có “chẳng trọn” hay chăng? Lại nói “vi trần sát” (cõi nước nhiều như vi trần), đó là biệt tướng. “Sát” là thế giới, vi trần chẳng thể đếm được, nên thế giới là vô lượng. Trong kinh có nói: “Thế giới vô tận”, đã là vô tận, há còn có thể nói là “chẳng trọn” hay chăng? Xin hãy thử so sánh giữa những điều cư sĩ lo nghĩ và hai câu trên đây, lời nào to lớn? Lời nào nhỏ bé? Sẽ hiểu rõ ngay!

 

* Hỏi: Phật Ca Diếp ứng thế, cũng ở trên địa cầu này hay không? Nếu là như vậy, sẽ chẳng xứng hợp với khảo chứng lịch sử, vì lúc ấy vẫn chưa có nhân loại tồn tại? (Quách Gia Ninh hỏi)

 

      Đáp: Các nhà khảo cổ học phát hiện xương động vật, hoặc những khoáng chất và các thứ đồ đựng ở dưới mặt đất, suy đoán những thứ ấy đều là vật thuộc mấy chục vạn năm trước; sao dám nói là trước đó không có nhân loại! Lịch sử như cư sĩ nói là lịch sử trong thời đại nào? Sử ấy chép những chuyện trong bao nhiêu năm? Quốc gia có thịnh, suy, tồn, vong, thế giới có thành, trụ, hoại, không, Ca Diếp Phật là chuyện thuộc về thời viễn cổ bao nhiêu vạn năm trước, đến nay đã trải qua bao lượt dâu bể, ông tra cứu [sử sách] chép chuyện trong hơn bốn ngàn năm thì làm sao có sách nào ghi chép cho được? Ví như đời Đường có Thiên Thu Tiết[27], nhưng ông lại tra nhật lịch của năm Dân Quốc 49 (1960), tự nhiên chẳng thấy ghi chép [tiết ấy].

 

      * Hỏi: Xin hỏi tam bộ nhất bái, có phải là đi ba bước, chắp hai tay vái lạy, hay là đi ba bước liền quỳ xuống đất dập đầu một lần, đứng lên lại vái? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

      Đáp: Đây là lễ nghi trong Phật môn, chưa nghe nói có quy định cố định. Nếu muốn phát nguyện thực hiện thì ba bước một lạy, thậm chí mỗi bước một lạy, cũng đều được cả! Nhưng đối với cách lạy ấy cũng nên lượng sức, chắp tay khom mình cũng được, quỳ xuống dập đầu cũng được!

 

* Hỏi: Đối với thỉ tổ của tam giáo Nho, Thích, Đạo, tôi biết đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni Phật, Đạo Giáo là Thái Thượng Lão Quân[28], nhưng Nho giáo chẳng biết là ai? Xin hãy dạy cho biết! (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

Đáp: Nho giáo tôn sùng Khổng Tử, Ngài tên là Khâu, tự là Trọng Ni, là người nước Lỗ dưới đời Châu.

 

* Hỏi: “Tam giáo đồng tông” có phải là cùng một thỉ tổ, thỉ tổ tên là gì? (Lâm Tú Diễm hỏi)

 

Đáp: Có nhiều cách giải thích chữ Tông. “Đồng tông” nghĩa là tổ tông cùng nguồn. Để đáp lời hỏi của cư sĩ có hai cách nói. Nho, Thích, Đạo mỗi giáo có tông chỉ chánh yếu riêng biệt, xét trên mặt Sự sẽ chẳng “đồng tông”; nhưng khởi điểm để đề xướng mỗi giáo đều phát xuất từ tánh thuần thiện, nên xét theo Lý là đồng tông. Nếu biết Lý này, tam giáo có cùng một thỉ tổ, tức tánh thuần thiện. Tánh thuần thiện ấy được gọi là Phật Tánh.

 

* Hỏi: Bất luận chỗ nào, người tại gia niệm Phật, ăn chay cũng đều gọi là đạo hữu? (Lâm Tú Diễm hỏi).

 

Đáp: Đại đạo chẳng chia nơi chốn. Phàm là đạo giống nhau thì đều là bạn. Chỉ niệm Phật, ăn chay thì trong hiện thời có chân, giả, tà, chánh khác biệt, chớ nên chẳng cẩn thận. Vì có rất nhiều kẻ xấu hoặc mưu đồ bất chánh, hoặc dối gạt để đoạt của, bịa ra một tổ chức, khéo léo che đậy, thường mạo danh Phật giáo, mắt cá lẫn với bảo châu, làm những chuyện quỷ quái. Nhưng bọn họ cũng thờ Phật, niệm Phật, ăn chay, nói chung là Đông kéo Tây lôi, khớp lừa chẳng vừa với miệng ngựa. Như niệm Thiên Nguyên Thái Bảo Thập Tự Phật[29], nào là Di Lặc chưởng quản thiên bàn, điểm khiếu[30], điểm truyền v.v... ma ngữ, ma hạnh chẳng ra thể thống gì. Người tu hành đã lâu vừa nhìn liền biết ngay, chứ kẻ sơ cơ chẳng dễ gì biện định. Phàm những kẻ thuộc loại ấy chính là quyến thuộc ma, chẳng phải là đạo hữu.

 

* Hỏi: Sản phụ nên ăn những thứ gì? Tôi nghe nói có tín đồ Phật giáo ăn chay, do sanh nở bèn ăn mặn. Do không đủ sữa, rốt cuộc bèn ăn mặn để tăng thêm sữa. Lý ấy nên hiểu ra sao? Hay là tín đồ Phật giáo ắt phải do sanh nở mà ăn mặn? (Trần Kim Tuyền hỏi)

 

Đáp: Phụ nữ trì giới sanh nở, chẳng thể nói ai nấy đều thiếu sữa. Dẫu vì thân thể yếu đuối mà thiếu sữa, nhưng trọn chẳng phải là ai nấy đều ăn mặn. Điều này chẳng thể khẳng định hoàn toàn. [Đối với chuyện] kẻ thiếu sữa do ăn thịt nên có thêm sữa, đó là do có liên quan đến chất béo, trọn chẳng phải là thần bí, kỳ lạ, đặc biệt gì. Nếu chẳng ăn thịt mà uống sữa bò, sữa dê, hoặc ăn bơ, cũng có thể tăng thêm sữa rất nhiều. Câu hỏi cuối cùng tợ hồ có ý nói ăn mặn là chánh đáng, ăn chay là sai lầm, lời lẽ không rõ ràng, nên chưa thể cẩu thả trả lời được!

 

* Hỏi: Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm nói “hằng thuận chúng sanh”, nhưng chúng sanh nhiễm ác dễ, học theo thiện khó khăn, nếu một mực thuận theo chúng sanh sẽ dễ trở nên thấp kém hơn, lại còn lo xuôi theo mà bị nhơ bẩn. Chẳng biết là trong nguyên tắc “hằng thuận chúng sanh”, làm thế nào để giáo hóa chúng sanh dẫn nhập Phật môn? (Trần Kim Tuyền hỏi)

 

      Đáp: Xuôi theo nên bị ô uế chính là phàm phu. Nếu là Bồ Tát sẽ hòa nhưng chẳng xuôi theo. Tùy thuận là hòa đồng, “chẳng xuôi theo” là chuyển biến họ. Đọc kinh cần phải hiểu nghĩa, như Tứ Nhiếp Pháp cũng có hai thứ là Lợi Hành và Đồng Sự, há có phải là xuôi theo rồi bị ô uế ư? Sách vở thế gian có câu: “Tương thuận kỳ mỹ, khuông cứu kỳ ác” (thuận theo điều tốt lành, nhưng cứu vớt điều ác). Kinh Phật dạy: “Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí” (trước dùng dục để lôi kéo, sau đấy sẽ làm cho họ nhập đạo). Hiểu nghĩa này, sẽ biết chẳng phải là giúp vua Trụ làm điều bạo ngược!

 

* Hỏi: Nước Ba La Nại (Vārānasī) ở nơi nào? (Thành Dương hỏi)

 

Đáp: Ở Trung Ấn Độ, tức là nước có Lộc Dã Uyển, nơi đức Phật thuyết Tứ Đế.

 

* Hỏi: Tuổi thọ của con người có phải là nói về thọ mạng bình quân của toàn bộ nhân loại trong lúc đó hay không? (Thành Dương hỏi)

 

Đáp: Trong một thời kiếp, nhân loại có một loại tuổi thọ. Nhân loại trong mỗi thế giới có một tuổi thọ, nhưng không gian và thời gian đều có khác biệt. [Để hiểu] tuổi thọ con người như kinh đã nói, phải dựa theo những điều trên đây để phân biệt

 

* Hỏi: “Sa Bà thế giới” bao quát những chỗ nào? (Thành Dương hỏi)

 

      Đáp: Thế giới Sa Bà bao gồm cả tam thiên đại thiên thế giới, những thế giới nổi tiếng trong ấy, kẻ hèn này chỉ biết có bốn. Còn nơi thực sự thông hiểu, chỉ có một, tức quả địa cầu này.

 

      * Hỏi: Từ vô thỉ đến nay, do tham, sân, si, sanh khởi thân, khẩu, ý nghiệp, đã tạo các tội chướng, nay ngồi ngay ngắn niệm Thật Tướng Sám Hối, đó là chân sám hối. Nếu lúc niệm Phật thì vừa niệm Phật vừa phát khởi sám hối như thế nào? Dấy lên ý niệm ấy, có phải là vọng tưởng, vọng niệm hay không? Có ảnh hưởng hay chăng? (Trần Táo hỏi)

 

      Đáp: Sám hối có Sự sám và Lý sám sai khác. Ngồi niệm Thật Tướng, thuộc loại Lý sám, bởi lẽ, vọng tâm diệt mất, tội tánh cũng không có chỗ nào để trụ. Vì vậy, cách sám hối này thật sự hữu lực. Khi niệm Phật, nếu có thể tập trung tam nghiệp, sẽ là bất loạn, vọng tâm cũng chẳng đến nỗi dấy lên, đó cũng là Lý sám. Niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật, khi ấy, tội nghiệp còn có chỗ nào để đặt chân! Nếu lại dấy lên ý niệm sám hối, sẽ là trên đầu chồng thêm đầu, ngược ngạo trở thành nhị tâm!

 

      * Hỏi: Cụ X... nhân lễ thọ bảy mươi đã mở tiệc. Loại sát sanh đãi đằng khách khứa ấy, nói theo phía cụ X... là nhằm tỏ lòng cảm tạ thân hữu đã biếu quà, chúc mừng. Nói theo phía thân hữu, nhằm biểu đạt lòng sùng kính cụ X... tuổi cao, đức trọng. Tội lỗi sát sanh rốt cuộc nên do ông X... gánh chịu, hay là quy tội về thân hữu? Hoặc là đôi bên đều gánh lấy tội lỗi? (nếu ăn chay sẽ chẳng bàn tới). (Quế Hướng Nguyên hỏi)

 

      Đáp: Đối với hành vi phạm tội, chia ra chánh phạm, tòng phạm và cộng phạm v.v... Phàm những kẻ tham dự chuyện ấy đều phải chịu trách nhiệm. Luận theo Phật pháp sẽ càng tỉ mỉ hơn, trừ kẻ chủ chốt và những kẻ tiếp tay ra, kẻ tùy hỷ, tán thán, đều chia sớt lỗi ấy. Huống chi cụ X... là chủ động, thân hữu là kẻ xúi giục!

 

      * Hỏi: Vọng ngữ là chẳng thành thật, dối gạt, hoặc lời lẽ bịa đặt, nhưng trong xã hội hiện thời, mỗi lần gặp hội nghị, do mối quan hệ gì đó khống chế, thường phải thốt ra những lời chẳng thật lòng, cố nhiên người đó (người được khen ngợi một cách giả dối) bị lừa gạt, các nhân viên hiện diện cũng biết rõ là chuyện bịa đặt, nhưng đôi bên đều hiểu rõ lòng nhau, chẳng nói! Nếu không như vậy thì trên ghi chép, nếu không có gì để biểu thị, diễn đạt công lao, cấp trên cũng mong cầu loại “đánh nhau trên giấy” ấy để làm căn cứ hòng tuyên dương công đức của người lãnh đạo. Người ăn nói như thế do tình thế bất đắc dĩ thúc ép mà phải vọng ngữ, dường như đối với bản thân trọn chẳng có tội lỗi lớn lắm, nhưng tội lỗi ấy rốt cuộc thuộc về ai? Do vạn sự hưng khởi đều có nguồn gốc, nói chung phải có một người chịu trách nhiệm. Nếu không, làm sai sẽ trọn chẳng thể trừng phạt. Nếu chỉ đau đáu hận rằng lòng người chẳng bằng thuở xưa thì quá mịt mờ, không biết cậy vào đâu? (Quế Hướng Nguyên hỏi )

 

      Đáp: Luận định về đạo và luận định thời thượng, rành rành là hai đường lối khác nhau. Đạo chủ yếu là bất biến, còn thời thượng thì quyền nghi. Nếu vọng ngữ có ích cho xã hội, quốc gia thì chẳng ngại tùng quyền. Trần Tư Bại hỏi Lỗ Chiêu Công có biết lễ hay chăng? Khổng Tử đáp: “Biết lễ”[31] là nhằm nói về ý này! Vô ích đối với xã hội, quốc gia thì chẳng chịu oan khuất, như Nhạc Chánh Tử chẳng chấp nhận cái đỉnh giả mạo là Sàm Đỉnh[32] chính là vì lẽ này! Vọng ngữ là chính mình chịu lỗi nhằm làm lợi người khác, đó là lợi ích chung. Đấy chính là bỏ mình để theo người khác. Nếu dối gạt người khác, để chính mình được lợi, quả thật đã tổn hại người khác mà cũng tổn hại chính mình. Lại nữa, một người ăn một người no, mọi người ăn mọi người no. Suy nghĩ điều ấy thì há còn có gì mờ mịt nữa ư?

      Phật Học Vấn Đáp Loại Biên

Phần 4 hết

 


[1] Nguyên văn “thị đan phi tố”. Đây là một thành ngữ, nếu hiểu theo nghĩa đen là chuộng sắc đỏ thắm, ghét những gì trắng nhợt, hiểu theo nghĩa rộng thì đây là một thành ngữ chê bai kẻ lắm thiên kiến, cái tâm phân biệt, yêu ghét quá mạnh!

[2] Kinh Sở còn gọi là Kinh Châu, tức là một trong chín châu của cổ Trung Hoa. Chữ Kinh Sở thường dùng để chỉ nước Sở thời Xuân Thu. Vùng Kinh Sở thuộc địa bàn các tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam hiện thời. Thời cực thịnh, nước Sở bao gồm các vùng Hồ Bắc, Trùng Khánh, An Huy, Giang Tô, Giang Tây, Chiết Giang, Quý Châu, và một phần Quảng Đông; nhưng hễ nói tới Kinh Sở thì chỉ là vùng Hồ Bắc và Hồ Nam.

Ngô chỉ vùng Giang Tô hiện thời do vùng này thuộc địa phận nước Ngô thời Xuân Thu. Theo truyền thuyết, Tây Bá Châu Thái Vương (Cơ Đàn Phụ) có ba người con trai là Thái Bá, Trọng Ung, Quý Lịch. Do Châu Thái Vương thấy con Quý Lịch là Cơ Xương (Châu Văn Vương) tài giỏi, nên có ý truyền ngôi cho Quý Lịch để sau này Cơ Xương sẽ được làm vua. Thấy vậy, hai người anh bèn bỏ xuống phía Nam sông Trường Giang, tự cắt tóc, xăm mình giống như người bản địa, tự xưng là Câu Ngô. Theo Sử Ký, có hơn một ngàn hộ dân đi theo hai ông, nên họ trở thành tổ tiên hoàng tộc nước Ngô. Đến đời vua cuối cùng là Phù Sai, nước Ngô bị Câu Tiễn (vua nước Việt) diệt quốc.  

Chữ Việt (越) chỉ tỉnh Chiết Giang (khác với chữ Việt (粵) chỉ tỉnh Quảng Đông). Lãnh thổ nước Việt thời Xuân Thu bao gồm các huyện thị Chư Kỵ, Đông Dương, Nghĩa Ô và Thiệu Hưng hiện thời. Chỉ biết tổ tiên của hoàng thất nước Việt là họ Tự, nhưng không rõ lập quốc năm nào. Sử Ký chỉ chép vị vua đầu tiên là Vô Dư vốn là con thứ của vua Thiếu Khang nhà Hạ. Nước Việt trở nên quật cường sau khi Câu Tiễn diệt nước Ngô, nhưng truyền đến đời vua thứ bốn mươi ba là Vô Cương thì bị nước Sở diệt quốc. Con thứ hai của Vô Cương là Minh Di được vua Sở cho cai quản vùng Ngô Thành ở phía Nam núi Âu Dương nên có hiệu là Âu Dương Đình. Do đó, những người mang họ Âu, Âu Dương, Âu Hầu tại Trung Hoa đều là hậu duệ của hoàng thất nước Việt.

Do các vùng này không thuộc Trung Nguyên, đều nằm về phía Nam Trường Giang, nên sử sách vẫn coi là vùng biên địa.

[3] Chư Phùng là một địa danh cổ, chưa biết đích xác ở nơi đâu. Câu “Thuấn sanh ư Chư Phùng” trích từ sách Mạnh Tử, thiên Ly Lâu Hạ. Dương Bá Tuấn chú giải: “Chư Phùng theo truyền thuyết cách huyện Hà Trạch tỉnh Sơn Đông năm mươi dặm về phía Nam”, có thuyết nói Chư Phùng thuộc tỉnh Sơn Tây.

Kỳ Châu nay thuộc huyện Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây. Nói là Tây Di hay Đông Di là vì họ không thuộc dân tộc Hoa Hạ sống tại Trung Nguyên.

[4] Hoàng Cân là giáo phái do Trương Giác sáng lập, âm mưu lật đổ nhà Hán, giáo đồ đầu quấn khăn vàng nên gọi là Hoàng Cân (khăn vàng).

[5] Bạch Liên Giáo là một tà phái xuất hiện dưới thời Nguyên. Thoạt đầu Mâu Tử Nguyên hâm mộ tông phong của tổ Huệ Viễn, nên lập liên xã cho tại gia cư sĩ với mục đích kết xã niệm Phật; nhưng dần dần bị biến chất, pha tạp, mang cơ cấu tổ chức thành giáo đoàn, phát sanh rất nhiều tệ đoan. Sau khi Mâu Tử Nguyên chết, Tiểu Mâu Xà Lê kế thừa, càng bành trướng mạnh mẽ ở phương Nam, thậm chí có những hành vi phạm pháp luật. Đồng thời pha trộn rất nhiều phù chú, đề xướng Tam Giáo Hợp Nhất, nhấn mạnh đến sự ra đời của Phật Di Lặc trong một tương lai rất gần, thậm chí, có những lãnh tụ tự xưng là hóa thân của Di Lặc Phật. Đến nỗi có những lãnh tụ Bạch Liên tự xưng là Hoạt Phật, gọi vợ mình là Phật Mẫu Đại Sĩ. Từ tín ngưỡng A Di Đà Phật ban đầu, họ đổi sang Đương Lai Hạ Sanh Sa Bà Giáo Chủ (Di Lặc Phật), vay mượn rất nhiều hình thức kỳ bí của Minh Giáo (hậu thân của Bái Hỏa Giáo Ba Tư), nên lấy biểu tượng hoa sen trắng trong lửa làm đối tượng thờ phụng chính. Do thế lực mạnh họ đã làm nhiều lần khởi nghĩa làm loạn, chẳng hạn như năm Chí Nguyên 17 (1280) đời Nguyên Thế Tổ, Đỗ Vạn Nhất xưng là Đỗ Thánh Nhân, lấy hiệu là Thiên Vương, nhưng nhanh chóng bị dẹp tan. Năm Thái Định thứ hai (1325), Triệu Sửu Tư và Quách Bồ Tát tuyên truyền “Di Lặc Phật sẽ lấy cả thiên hạ” để dấy loạn, loạn Hồng Cân do Bạch Liên Giáo khởi xướng vào năm Chí Chánh 11 (1351), Châu Nguyên Chương đã dựa vào thế lực của Hàn Sơn Đồng lãnh tụ Bạch Liên Giáo để khởi sự lật đổ nhà Nguyên, lập ra nhà Minh.

[6] Dưới thời Khang Hy, Lưu Tá Thần sáng lập Bát Quái Giáo (hoặc Ngũ Huân Đạo, Thâu Nguyên Giáo, Thanh Thủy Giáo). Tuy gọi là đạo mới, đây cũng chỉ là một chi lưu của Bạch Liên Giáo. Lưu Tá Thần từng theo Bạch Liên Giáo và Hoàng Thiên Đạo rồi tách ra, tự lập giáo. Tên ban đầu là Thâu Nguyên Giáo, nhưng do dựa theo Bát Quái để chia giáo đồ thành tám khu vực, nên gọi là Bát Quái Giáo. Tà phái này thịnh hành tại Trực Lệ, Sơn Tây, Hà Nam v.v... hết sức cường điệu Tam Giáo Hợp Nhất, nhưng lấy tu luyện nội đan làm chính để mê hoặc tín đồ. Đến năm Càn Long 16 (1751), Vương Luân nhập giáo, bắt đầu truyền bá một chi phái mới là Thanh Thủy Giáo, tự xưng là hoàng đế, nên bị nhà Thanh đàn áp. Tới niên hiệu Gia Khánh, Lý Văn Thành và Lâm Thanh lại đề xướng một chi phái gọi là Thiên Lý Giáo (từ đây lại tách ra các chi phái mới như Thiên Địa Giáo, Bạch Dương Giáo, Vinh Hoa Hội). Họ tự xưng thông đạt thiên văn, biết trước mọi chuyện trong cõi đời, âm mưu phản Thanh phục Minh, cấu kết với bọn thái giám, hẹn ngày khởi sự tấn công vào Tử Cấm Thành. Sự việc bại lộ, Lâm Thanh bị giam, Lý Văn Thành bị đốt chết. Sau khi Ngô Đắc Vinh, giáo chủ Bát Quái Giáo bị bắt, xử tử, Mã Vạn Lương kế nhiệm làm giáo chủ, đến đời con là Mã Tiến Trung lại đổi tên thành Minh Thiên Giáo. Dù tên gọi như thế nào đi nữa, vẫn chỉ là nhập nhằng mượn danh Tam Giáo để thu hút tín đồ, chẳng hạn họ bịa ra những nhân vật như Vô Vi Lão Tổ, Vô Sanh Lão Mẫu, bảo đó là đấng sanh thành trời đất, vũ trụ, chư Phật, Bồ Tát, chư vị thần thánh v.v...

[7] Thật ra, “phương cân” ở đây là một loại mão mềm, không có tai, dành cho văn nhân vào thời Minh.

[8] Nguyên văn “miện lưu phủ phất”. Miện (冕) là mão bình thiên của vua (hình giống như cái ống, trên đỉnh có tấm đậy nằm ngang, hình chữ nhật, trước mặt thả nhiều chuỗi châu, thông thường là chín chuỗi châu). Lưu (旒) là cái tua của mũ miện. Phủ (黼) là thêu thùa xen kẽ hoa văn giống như hình lưỡi búa, cán đen, nhằm tượng trưng cho uy quyền. Có thuyết nói phương Tây sắc trắng, phương Bắc là Thủy, sắc đen, thêu xen lẫn đen trắng, ngụ ý kiên cường, nhưng vẫn uyển chuyển mềm dẻo, ân uy cùng vận dụng. Phất (黻) là lối thêu hoa văn xanh và đen xen kẽ, giống  như hình hai chữ Dĩ (已) đâu lưng với nhau. Loại hoa văn này ta thường gọi là “chạy triện” nhằm viền quanh mép áo mũ cho đẹp.

[9] Tôn Thúc Ngao (còn gọi là Vi Ngao, Vi Ngải Liệp, hoặc Vi Nhiêu), thuộc gia tộc Mỵ, họ Vi, tên Ngao, tự là Tôn Thúc. Do người thời Tiên Tần hay gọi tên tự trước tên riêng nên ông được gọi là Tôn Thúc Ngao. Tôn Thúc Ngao làm tướng quốc (lệnh doãn) dưới thời Sở Trang Tương, đã cống hiến rất lớn cho sự cường thịnh của nước Sở bằng tài năng quân sự và nông nghiệp của mình. Ông cũng được coi là một kỹ sư thủy lực tiên phong của Trung Hoa cổ đại. Ông từng vâng lệnh đắp một cái đập ở tỉnh An Huy dài sáu mươi hai dặm, cũng như xây dựng hệ thống kinh đào. Hệ thống hồ chứa nước do ông xây dựng đến nay vẫn còn di tích tại An Huy. Thuở bé, Tôn Thúc Ngao ra đồng chơi thấy một con rắn hai đầu. Người thời ấy tin ai thấy rắn hai đầu sẽ chết, Tôn Thúc Ngao nghĩ ta chết cũng đành, chẳng nỡ để người khác cũng chết, nên đập chết rắn (có thuyết nói chém chết), đem chôn đi. Tuy làm quan to, uy quyền cực đỉnh, ông vô cùng liêm khiết đến nỗi khi mất, con cháu không có tiền để mua hòm liệm.

[10] Kinh Khởi Thế, còn gọi là Khởi Thế Nhân Bổn Kinh, gồm có mười quyển, chia thành mười hai phẩm, do ngài Tam Tạng Xà Na Quật Đa người xứ Thiên Trúc dịch vào đời Tùy. Nội dung kinh này giải thích sự hình thành, phát triển, tổ chức và diệt vong của vũ trụ. Những bản dịch khác của kinh này là Đại Lâu Thán Kinh do ngài Pháp Cự và Pháp Lập dịch vào thời Tây Tấn, kinh Khởi Thế trong bộ Trường A Hàm do ngài Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch, Khởi Thế Nhân Bổn Kinh do ngài Đạt Ma Cấp Đa dịch vào đời Tùy. Bộ luận Phật Thuyết Lập Thế A Tỳ Đàm Luận (do ngài Chân Đế dịch) cũng chứa đựng những ý nghĩa liên quan đến bộ kinh này.

[11] Thường Nga (嫦娥) còn gọi là Hằng Nga (姮娥) là một nhân vật thần thoại, rất xinh đẹp, vợ của Hậu Nghệ. Do uống trộm thuốc tiên do Hậu Nghệ xin từ chỗ Tây Vương Mẫu nên bất tử, sợ chồng hành hung nên trốn lên cung trăng. Có thuyết nói Thường Nga sau khi lên mặt trăng liền biến hình thành con cóc (thiềm thừ) để Hậu Nghệ khỏi bắt được. Vì thế, mặt trăng còn gọi là Thiềm Cung. Có thuyết nói Thường Nga ở trong cung Quảng Hàn, có thỏ ngọc và Ngô Cang bầu bạn. Cũng giống như nhân vật thằng Cuội trong truyện cổ Việt Nam, Ngô Cang người huyện Tây Hà, là tiều phu; nhưng “chàng Cuội” của Trung Hoa say mê tu tiên. Tuy vậy, chẳng chuyên tâm học tập, Thiên Đế nổi giận, đày lên cung trăng bắt đốn cây quế để tu tập đạo tiên. Cứ mỗi lần Ngô Cang đốn được một nửa, cây quế lại mọc lên tươi tốt như cũ, nên cứ phải cặm cụi đốn mãi.  

[12] Theo kinh Biệt Dịch Tạp A Hàm, quyển năm, tỳ-kheo Cù Già Lê (Kokālika) thân với tỳ-kheo Đề Bà Đạt Đa, thường hủy báng tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Đại Phạm Vương liền hiện thân khuyên bảo, nhưng Cù Già Lê cậy mình thông minh bèn châm chọc: “Ông đã đắc A Na Hàm phải không?” “Đúng thế!” “A Na Hàm là Bất Lai, cớ sao nay ông vẫn đến đây làm Đại Phạm Thiên Vương vậy?” Đại Phạm Vương biết cảm hóa không được, cảm thán nói kệ xong biến mất. Cùng với Ca Lưu Lô Đề Xá, Cù Già Lê là trợ thủ đắc lực cho Đề  Bà Đạt Đa phá Tăng. Ông này bị đọa địa ngục A Tỳ do vu cáo ngài Mục Kiền Liên hoang dâm.

[13] Chiến Giá (Cinca Manavika), còn dịch là Chiên Xà, hoặc Giá Ma Na bị bọn ngoại đạo mua chuộc, độn bụng, vu cáo Phật đã ăn nằm với cô ta đến nỗi bụng mang dạ chửa, đến trước Phật khóc lóc, chê trách Phật trốn tránh trách nhiệm, toan làm dữ. Đức Phật thản nhiên: “Chuyện này ta biết, ngươi biết”.  Tăng chúng xôn xao, kẻ thiếu tin tâm vội vã đứng dậy, toan bỏ Phật, do đám đông chen lấn, khúc gỗ độn bụng cô ta tuột ra, khiến sự thật được vạch trần. Sách Tây Vực Ký quyển sáu ghi rõ: “Cách cái hầm nơi Cù Già Lê bị đọa hơn tám trăm bước về phía Nam là nơi cô gái Bà La Môn Chiến Giá hủy báng Như Lai nên đọa địa ngục ngay trong khi còn sống”. 

[14] Ở đây người hỏi đã lầm lẫn giữa hai vị Ca Diếp. Đại Ca Diếp là Sơ Tổ thứ nhất của Thiền Tông, là vị chủ trì kết tập kinh điển sau khi Phật nhập diệt, chính là vị có hạnh Đầu Đà bậc nhất. Vị Ca Diếp cho Phật ngủ trong hang có rồng độc chính là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp. Trước khi theo Phật, Ngài thờ thần lửa, tự nghĩ mình đã chứng A La Hán, nên Phật mới đến hóa độ.

[15] Hiểu theo nghĩa rộng, “vương bát” và “ô quy” đều là rùa, nhưng nếu nói tỉ mỉ, “vương bát” là loài rùa mai cứng, gồ lên (các loài ba ba, đồi mồi, vích v.v... đều có thể gọi chung là “vương bát”), còn “ô quy” là rùa đen, mai dẹp.

[16] Nguyên văn “mãi độc hoàn châu” (買櫝還珠) là một từ ngữ châm biếm kẻ chẳng biết giá trị, giống như thấy cái rương đẹp đẽ bèn chỉ mua cái rương ấy, không màng đến châu báu chứa trong đó.

[17] Câu chuyện này được chép trong kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương quyển bốn, phẩm Lưu Thủy Trưởng Giả Tử. Đúng ra là mười ngàn con cá.

[18] Đây là phù hiệu của Tiên Thiên Đạo và Nhất Quán Đạo, gồm một hình tròn, có vạch thẳng chính giữa chia thành hai nửa bằng nhau, giữa hai nửa lại có hai chấm tròn nhỏ. Họ giải thích đây là chữ Mẫu (母) trong tiếng Hán xoay ngang 90 độ, tượng trưng cho vị thần chủ chốt của họ, tức Vô Cực Lão Mẫu, nửa trước của phù hiệu này là mẹ linh tánh, nữa sau là mẹ của cái thân huyết nhục.

[19] Diêu Trì Kim Mẫu chính là Tây Vương Mẫu. Đạo giáo đã phong tặng bà một danh hiệu rất dài là Bạch Ngọc Quy Đài Cửu Linh Thái Chân Kim Mẫu Nguyên Quân, và coi bà là một nữ thần cao nhất trong Đạo Giáo. Nhất Quán Đạo coi bà chính là Vô Cực Lão Mẫu. Thông thường, để giải thích nguồn gốc của vị nữ thần này thì người ta thường dẫn thuyết bà cùng Đông Vương Công (Đông Hoa Đế Quân) cùng sanh ra một lúc do khí Âm Dương trong thiên địa hợp thành, sanh thành trời đất. Người tu tiên đắc đạo, phải bái yết Đông Vương Công, rồi bái yết bà mới được gặp Tam Thanh. Trong Dậu Dương Tạp Trở, Đoàn Thành Thức lại bảo Tây Vương Mẫu họ Dương, tên Hồi, tự là Uyển Cấm, sống ở phía Tây núi Côn Luân.

[20] Tiên Thiên Đạo vốn bắt nguồn từ La Tổ Giáo, dư đảng của Bạch Liên Giáo, do Hoàng Đức Huy (1624-1690) sáng lập, thường được gọi là Thanh Liên Giáo, Kim Đan Đạo, hoặc Trai Phỉ trong các văn thư đời Thanh. Họ chủ trương ăn chay, nhưng luyện nội đan của Đạo gia, kể cả tôn thờ những vị thần thánh dân gian, đặc biệt thờ Minh Minh Thượng Đế (Vô Cực Lão Mẫu, Vô Sanh Lão Mẫu). Họ còn dám bịa đặt là đạo chân truyền do tổ Đạt Ma truyền qua, sau khi Lục Tổ Huệ Năng loạn truyền, Thiền đạo suy bại, Thiền pháp chân truyền được bảo lưu bởi tại gia cư sĩ, nhất là các vị như Bạch Ngọc Thiềm, Mã Đơn Dương (các đạo sĩ của Toàn Chân Giáo), tổ thứ tám là La Úy Quần (La Tổ), tổ thứ chín là Hoàng Đức Huy, về sau phân ra làm nhiều chi phái nhỏ nữa. Nhất Quán Đạo bắt nguồn từ đạo này.

[21] Nguyên văn “hãn ngưu sung đống”, ý nói sách nhiều đến chất đầy nhà đến tận kèo, trâu kéo xe chở sách toát cả mồ hôi!

[22] Tế Công (1133-1209) còn được gọi là Tế Điên Hòa Thượng, tục danh Lý Tu Duyên (có nơi ghi là Lý Tâm Viễn), người xứ Thai Châu, tỉnh Chiết Giang, sống vào thời Nam Tống. Sau khi, cha mẹ đều khuất núi, Sư xuất gia tại chùa Linh Ẩn với pháp sư Hạt Đường Huệ Viễn (Phật Hải Huệ Viễn), được ban pháp hiệu Đạo Tế, nhưng Sư chẳng thích tọa thiền, chẳng kiêng rượu thịt, ưa ăn tỏi và thịt chó, nói năng điên điên khùng khùng, nhưng chứa đầy huyền cơ. Quần áo xộc xệch, bẩn thỉu, rách rưới, tay hay cầm chiếc quạt rách. Mỗi khi tăng chúng bực bội, xin ngài Huệ Viễn đuổi Đạo Tế đi, hòa thượng đều nói: “Cửa Phật to như thế, chẳng dung nổi một ông tăng điên khùng ư?” nên người ta gọi Đạo Tế là Tế Điên từ đó. Sau khi ngài Huệ Viễn viên tịch, tăng chúng đuổi Đạo Tế sang chùa Tịnh Từ. Do y thuật tinh thông, cứu sống rất nhiều người nên được dân chúng tôn là Tế Công Hoạt Phật. Trước lúc lâm chung, Sư đọc kệ: “Lục thập niên lai lang tạ, đông bích đả đáo tây bích, như kim thâu thập quy lai, y cựu thủy liên thiên bích” (Sáu mươi năm nhếch nhác, vách đông lăn vách tây, nay thâu thập trở về, nước chảy tận trời y như cũ). Sau khi Sư viên tịch, hổ đến phủ phục trước mộ, nên người ta bèn dựng tháp thờ.

[23] Thập Tụng Luật, gọi đầy đủ là Tát Bà Đa Bộ Thập Tụng Luật là một bộ giới luật dành cho tăng chúng theo truyền thống Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivādin, còn phiên âm là Tát Bà Đa Bộ), do Phất Nhã Đa La và Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán, gồm sáu mươi mốt quyển. Tương truyền, bộ luật này vốn có tên là Bát Thập Tụng Luật vì lúc tôn giả Ưu Ba Ly kết tập Luận Tạng sau khi đức Phật nhập diệt, trong thời gian ba tháng kết hạ, Ngài đã chia thành tám mươi lượt tụng ra. Về sau, do truyền thừa, Sơ Tổ Đại Ca Diếp cho đến vị tổ thứ năm đã gạn bớt những chỗ rườm rà chỉ còn lại mười lần tụng cho nên gọi là Thập Tụng Luật. Thập Tụng Luật cùng với Tứ Phần Luật, Ngũ Phần Luật, Ma Ha Tăng Kỳ Luật được gọi là Tứ Đại Luật Điển. Do số lượng giới điều nhiều, cũng như các pháp sự Yết Ma, định tội, sám hối, oai nghi v.v... rất phức tạp, hàng cư sĩ tại gia dẫu nghiên cứu thì cũng chẳng có ích gì, nên cụ Lý mới nói “nếu chưa đọc sách ấy, dẫu nói nội dung [thì người nghe] cũng ngơ ngác”.

[24] Đây là những cách viết văn vẻ của Trung Hoa thời ấy khi tặng lễ  vật, “hạ nghi” (賀儀, hạ là chúc mừng) hay “phỉ nghi” (菲儀, phỉ là đơn bạc, kém cỏi) được dùng khi gởi tặng lễ vật mừng đám cưới. “Chí nghi” (贄儀) dùng khi biếu tặng lễ vật lên sư trưởng, cấp trên, hoặc người có danh vọng. “Chí” vốn có nghĩa là lễ vật dùng để tương kiến, tỏ vẻ kính trọng. Thậm chí, học trò xin học, dâng phong bao (hồng bao) chứa một ít tiền biếu thầy cũng gọi là “chí nghi”; biếu tặng bề trên như cha mẹ, thầy học vào các dịp lễ Đoan Ngọ, Thất Tịch, Trung Thu, Trùng Dương v.v... cũng gọi là “chí nghi”.

[25] “Phổ Phật” là danh từ gọi chung những nghi thức tán dương và xưng danh, đảnh lễ một vị Phật hoặc Bồ Tát nào đó trong Phật môn Trung Hoa. Thông thường, một nghi thức như vậy luôn khởi đầu bằng tán hương, sám hối tam nghiệp, kế đó là trước mỗi danh hiệu thường có một bài tán, tiếp đó là xướng danh hiệu, rồi lạy. Phổ Phật phổ biến nhất là nghi thức lễ Tam Thiên Phật.

[26] Đây  là một phái trong Lý Học do Vương Dương Minh và Lục Cửu Uyên chủ xướng. Phái này thường được gọi là Vương Lục Tâm Học, đối kháng quan điểm Lý Học của Châu Hy (còn gọi là Trình Châu Lý Học, hoặc Lạc Học, do đa số các lãnh tụ chủ xướng phái này sống ở Lạc Dương).

[27] Thiên Thu Tiết chính là sinh nhật của hoàng đế. Lệ này khởi xướng từ thời Đường Huyền Tông. Sách Hội Yếu, phần Tiết Nhật chép: “Ngày mồng Năm tháng Năm năm Khai Nguyên 17 (729), bọn Tả Thừa Tướng Nguyên Càn Diệu, Hữu Thừa Tướng Trương Thuyết v.v... dâng biểu xin lấy ngày ấy làm Thiên Thu Tiết. Đến ngày mồng Một tháng Tám năm Thiên Bảo thứ hai (743), Hình Bộ Thượng Thư kiêm Kinh Triệu Doãn Tiêu Cập và trăm quan xin đổi Thiên Thu Tiết thành Thiên Trường Tiết”.

[28] Thái Thượng Lão Quân chính là Lão Tử. Bản thân Lão Tử không hề lập ra Đạo Giáo, chỉ là Đạo Giáo tự tôn xưng Ngài là giáo chủ của Đạo Giáo. Để phân biệt triết thuyết của Ngài với Đạo Giáo, người ta nói Lão Giáo hoặc Hoàng Lão. Đạo giáo do Trương Lăng sáng lập và chỉ “thấy người sang bắt quàng làm họ” bằng cách bịa đặt chuyện Lão Tử trao thiên thư, dạy đạo cho Trương Lăng, cũng như tôn xưng Ngài bằng một danh hiệu cực dài và cũng hết sức lủng củng là Nhất Khí Hóa Tam Thanh Thái Thanh Cư Hỏa Xích Thiên Tiên Đăng Thái Thanh Cảnh Huyền Khí Sở Thành Nhật Thần Bảo Quân Đạo Đức Thiên Tôn Hỗn Nguyên Thượng Đế. Thông thường, họ chỉ gọi Lão Tử là Đạo Đức Thiên Tôn (vì Ngài viết Đạo Đức Kinh), Hỗn Nguyên Lão Quân, Giáng Sanh Thiên Tôn, Thái Thanh Đại Đế v.v...

[29] Đây là một thứ tà thuyết chủ yếu do bọn Nhất Quán Đạo bịa ra, nói niệm Nam-mô A Di Đà Phật sẽ không thể thành tựu, phải niệm đủ mười chữ “Nam-mô Thiên Nguyên Thái Bảo A Di Đà Phật” mới có thể đạt đến cảnh giới tối cao. Chúng rêu rao điều này do đích thân Di Lặc Phật truyền dạy và những lời dạy ấy được chép thành một cuốn kinh gọi là Di Lặc Chân Kinh. Ngoài ra, chúng còn giải thích xằng bậy như thế này: “Nam giả, nguyên lai bổn thị thiên, Mô tự hậu diện khẩn tương liên, Thiên giả giáo nhân quy thiên khứ, Nguyên tự ngũ khí khí triều nguyên, Thái giả giáo nhân đắc thái pháp, Bảo tự linh nhân bao châu toàn, A giả tạo thuyền du khổ hải, Di tự sảo thư bả tín truyền, Đà giả siêu sanh Tây Phương khứ, Phật tự quy gia hoàn bổn nguyên” (Chữ Nam vốn có nghĩa là trời, chữ Mô ở ngay sau đó, liên kết chặt chẽ, Thiên là dạy con người quay về cõi trời, chữ Nguyên là năm thứ khí cùng chầu về cùng một nguồn, Thái là dạy con người đắc pháp rất cao quý, chữ Bảo là nhằm làm cho con người được trọn vẹn, A là tạo chiếc thuyền vượt biển khổ, chữ Di là gởi sách để truyền bá niềm tin, Đà là siêu sanh về Tây Phương, chữ Phật là trở về nhà, trở về với nguồn cội)!

[30] Đây là một hình thức bịa đặt bí truyền của tà giáo, “minh sư” sẽ điểm đạo cho trò “đủ tư cách nhập thất” một thầy một trò trong phòng kín, trò cởi sạch quần áo để thày bấm hay truyền chân khí (chân linh, tâm ấn hoặc trăm thứ danh từ hổ lốn khác do họ bịa đặt hoặc cóp nhặt) lên những huyệt trọng yếu trong thân thể, còn gọi bằng những danh từ mỹ miều như “khai luân xa”, “đả huyền quan”, “điểm truyền” v.v...

[31] Đây là một đoạn trích trong Luận Ngữ, thiên Thuật Nhi: “Trần Tư Bại vấn: ‘Chiêu công tri lễ hồ?’ Khổng Tử viết: ‘Tri lễ’. Khổng Tử thoái, ấp Vu Mã Kỳ nhi tấn chi, viết: ‘Ngô văn quân tử bất đảng, quân tử diệc đảng hồ? Quân thủ ư ngô, vi đồng tánh, vị chi Ngô Mạnh Tử. Quân nhi tri lễ, thục bất tri lễ? Vu Mã Kỳ dĩ cáo. Tử viết: “Khâu dã hạnh, cẩu hữu quá, nhân tất tri chi” (Quan chưởng quản tư pháp của nước Lỗ là Trần Tư Bại hỏi: “Lỗ Chiêu Công có biết lễ hay chăng?” Khổng Tử đáp: “Biết lễ”. Khổng Tử lui ra, Trần Tư Bại liền chắp tay hướng về Vu Mã Kỳ (học trò Khổng Tử) hỏi: “Ta nghe nói quân tử chẳng thiên vị, nào ngờ quân tử cũng bợ đỡ? Vua lấy một người con gái ở đất Ngô làm vợ, do có cùng họ [mà luật nước Lỗ cấm cùng họ lấy nhau] nên vua bèn đổi tên cô ta thành Ngô Mạnh Tử. Nhà vua mà biết lễ thì có ai mà chẳng biết lễ”. Vu Mã Kỳ thưa lại với thầy, Khổng Tử nói: “Ta thật là may mắn, nếu có lỗi là người khác biết ngay!”). Các nhà bình chú cho rằng vì tránh cảnh bề tôi tự tiện công kích vua, gây rối trật tự xã hội, nên Khổng Tử phải nói như vậy; rồi khi bị chỉ trích bèn nhận đó là lỗi mình để dứt hiềm nghi.

[32] Sàm Đỉnh (讒鼎) là một cái đỉnh nổi danh thời Chiến Quốc, được coi là quốc bảo của nước Lỗ, các nước chư hầu đều thèm muốn. Tề đánh Lỗ, đòi giao nộp Sàm Đỉnh. Vua Lỗ giấu đỉnh thật đi, giao một cái đỉnh giả (Nhạn Đỉnh) cho Tề. Vua quan nước Tề vây quanh xem xét, bán tín bán nghi, hỏi: “Thật hay giả?” Sứ giả thưa: “Thật”, vua Tề bảo: “Hãy mời Nhạc Chánh Tử đến đây, [nếu ông ta nói là đúng] thì ta mới tin”. Vua Lỗ bèn mời Nhạc Chánh Tử (người hiền nổi tiếng trung tín thời ấy) đến thương lượng. Nhạc Chánh Tử hỏi: “Sao không đem đồ thật đưa cho họ?” Vua Lỗ nói: “Ta quý cái đỉnh ấy quá, làm sao giao được?” Nhạc Chánh Tử đáp: “Tôi cũng quý sự trung tín của tôi”.