Chùa Phật Ân 475 Minnesota Avenue Roseville, MN 55113. Tel: (651) 482-7990 - Web: www.PhatAn.org. Email: chua_phatan@yahoo.com.
Danh Mục Tam Tạng
THƯ MỤC TÁC GIẢ

29. Phẩm Thập-nhẫn

03 Tháng Tám 201612:56 CH(Xem: 1370)
29. Phẩm Thập-nhẫn
KINH HOA NGHIÊM  

Hán Dịch: Đại-Sư Thật-Xoa-Nan-Đà - Việt Dịch: HT Thích Trí Tịnh 
Phật Học Viện quốc Tế Xuất Bản PL 2527 – 1983

 

 PHẨM THẬP NHẪN
THỨ HAI MƯƠI CHÍN


 Bấy giờ Phổ-Hiền Bồ-Tát bảo chư Bồ-Tát :

 Chư Phật-tử ! Đại Bồ-Tát có mười thứ nhẫn, nếu được nhẫn nầy thời được đến nơi vô-ngại nhẫn-địa của tất cả Bồ-tát, tất cả phật-pháp vô-ngại vô-tận.

 Đây là mười nhẫn : âm-thanh nhẫn, thuận nhẫn, vô-sanh-pháp nhẫn, như huyễn nhẫn, như diệm nhẫn, như mộng nhẫn, như hưởng nhẫn, như ảnh nhẫn, như hóa nhẫn, như không nhẫn.

 Mười nhẫn nầy, tam-thế chư Phật đã nói, nay nói, sẽ nói.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát âm-thanh nhẫn?

 Nghĩa là nghe những pháp của chư Phật nói, chẳng kinh chẳng hãi chẳng sợ, thâm tín ngộ giải, ưa thích xu-hướng, chuyên tâm ghi nhớ, tu tập an-trụ.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát thuận-nhẫn ?

 Nghĩa là ở nơi phật-pháp tư-duy quán-sát bình-đẳng không trái, tùy thuận biết rõ, khiến tâm thanh-tịnh, chánh trụ tu tập xu nhập thành-tựu.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát vô-sanh-pháp nhẫn ?

 Đại Bồ-Tát nầy chẳng thấy có chút pháp nào sanh, cũng chẳng thấy có chút pháp nào diệt. Tại sao vậy ? Vì nếu đã vô-sanh thời vô-diệt. Nếu đã vô-diệt thì vô-tận. Nếu vô-tận thời ly-cấu. Nếu ly-cấu thời vô-sai-biệt. Nếu vô-sai-biệt thời vô-xứ-sở. Nếu vô-xứ-sở thời tịch-tịnh. Nếu tịch-tịnh thời ly-dục. Nếu ly-dục thời vô-tác. Nếu vô-tác thời vô-nguyện. Nếu vô-nguyện thời vô trụ. Nếu vô-trụ thời vô-khứ vô-lai. Đây gọi là thứ ba, vô-sanh-pháp-nhẫn của đại Bồ-Tát.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là như-huyễn-nhẫn ?

 Đại Bồ-Tát nầy biết tất cả pháp đều như huyễn, từ nhơn duyên khởi. Ở trong một pháp hiểu nhiều pháp, trong nhiều pháp hiểu một pháp. Đã biết các pháp như huyễn, đại Bồ-Tát nầy rõ thấu quốc-độ, chúng-sanh, pháp-giới. Rõ thấu thế-gian bình-đẳng, Phật xuất-thế bình-đẳng, tam-thế bình-đẳng. Thành-tựu những thần-thông biến-hóa.

 Ví như huyễn chẳng phải voi, ngựa, xe, nam, nữ, đồng-nam, đồng-nữ, chẳng phải cây, lá, bông, trái, đất, nước, lửa, gió, chẳng phải ngày, đêm, mặt trời, mặt trăng, chẳng phải nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm,một kiếp, nhiều kiếp, chẳng phải định, loạn, thuần, tạp, một, khác, chẳng phải rộng, hẹp, nhiều, ít, lượng, vô-lượng, thô, tế. Huyễn chẳng phải tất cả sự vật, tất cả sự vật chẳng phải huyễn, nhưng do huyễn thị-hiện ra những sự vật sai khác.

 Cũng vậy, đại Bồ-Tát quán tất cả thế-gian như huyễn. Những là nghiệp thế-gian, phiền-não thế-gian, quốc-độ thế-gian, pháp thế-gian, thời thế-gian, thú thế-gian, thành thế-gian, hoại thế-gian, vận-động thế-gian, tạo-tác thế-gian.

 Lúc Bồ-Tát quán tất cả thế-gian như huyễn, chẳng thấy chúng-sanh sanh, chẳng thấy chúng-sanh diệt, chẳng thấy quốc-độ sanh diệt, chẳng thấy các pháp sanh diệt, chẳng thấy quá-khứ có thể phân-biệt được, chẳng thấy vị-lai có khởi tác, chẳng thấy hiện-tại một niệm trụ, chẳng thấy quán-sát bồ-đề, chẳng thấy Phật xuất-hiện, chẳng thấy Phật niết-bàn, chẳng thấy trụ đại-nguyện, chẳng thấy nhập chánh-vị, chẳng ngoài tánh bình-đẳng.

 Đại Bồ-Tát nầy dầu thành-tựu Phật-độ mà biết quốc-độ vô-sai-biệt. Dầu thành-tựu chúng-sanh mà biết chúng-sanh vô-sai-biệt. Dầu khắp quán pháp-giới mà an-trụ pháp-tánh vắng lặng chẳng động. Dầu thấu rõ tam-thế bình-đẳng mà chẳng trái phân-biệt pháp tam-thế. Dầu thành-tựu uẩn xứ mà dứt hẳn sở-y. Dầu độ thoát chúng-sanh mà rõ biết pháp-giới bình-đẳng không các thứ sai khác. Dầu biết các pháp xa lìa văn tự không thể ngôn thuyết mà thường thuyết pháp biện-tài vô-tận. Dầu chẳng chấp lấy việc giáo-hóa chúng-sanh mà chẳng bỏ đại-bi, vì độ tất cả mà chuyển pháp-luân. Dầu vì chúng-sanh khai thị nhơn duyên quá-khứ mà biết tánh nhơn-duyên không có động chuyển. Đây gọi là như huyễn nhẫn thứ tư.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát như diệm nhẫn ?

 Đại Bồ-Tát nầy biết tất cả thế-gian đồng như dương-diệm.

 Ví như dương-diệm chẳng có phương-sở, chẳng phải nội, ngoại, hữu, vô, đoạn, thường, chẳng phải một màu, nhiều màu, cũng chẳng phải không màu, chỉ tùy theo ngôn thuyết thế-gian mà hiển thị.

 Cũng vậy, đại Bồ-Tát như thiệt quán-sát, rõ biết các pháp hiện chứng tất cả khiến được viên-mãn. Đây gọi là như diệm nhẫn thứ năm của đại Bồ-Tát.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát như mộng nhẫn?

 Đại Bồ-Tát nầy biết tất cả thế-gian như mộng.

 Ví như mộng chẳng phải thế-gian, chẳng phải rời thế-gian, chẳng phải dục-giới, sắc giới, vô-sắc-giới, chẳng phải sanh, diệt, nhiễm, tịnh, nhưng vẫn có hiển-thị.

 Cũng vậy, đại Bồ-Tát biết tất cả thế-gian đồng như mộng. Vì không đổi khác, vì như tự-tánh của mộng, vì như mộng chấp trước, vì như mộng tánh ly, vì như bổn-tánh của mộng, vì như mộng hiện ra, vì như mộng vô-sai-biệt, vì như mộng tưởng phân-biệt, vì như lúc mộng thức giấc. Đây gọi là như-mộng-nhẫn thứ sáu của đại Bồ-Tát.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát như-hưởng-nhẫn ?

 Đại Bồ-Tát nầy nghe Phật thuyết pháp quán các pháp-tánh tu học thành-tựu đến bỉ-ngạn, biết tất cả âm-thanh đồng như vang không lai không khứ mà hiển thị như vậy.

 Đại Bồ-Tát nầy quán-sát tiếng của đức Như-Lai chẳng từ trong phát ra, chẳng từ ngoài phát ra, cũng chẳng từ nơi trong ngoài phát ra. Dầu biết rõ tiếng chẳng phải từ trong, từ ngoài, từ trong ngoài phát ra, mà có thể thị-hiện danh cú thiện-xảo diễn thuyết thành-tựu.

 Ví như âm vang nơi hang từ duyên phát ra, mà cùng pháp-tánh không trái nhau. Khiến các chúng-sanh theo loài được hiểu biết và tu học.

 Như Thiên-Đế phu-nhơn, con gái vua A-Tu-La, tên Xá-Chi, trong một âm-thanh phát ra ngàn thứ âm-thanh, nhưng Phu-Nhơn vẫn không có tâm nghĩ làm cho phát ra như vậy.

 Cũng vậy, đại Bồ-Tát nhập vô-phân-biệt-giới, thành-tựu tiếng tùy loại thiện-xảo, ở trong vô-biên thế-giới hằng chuyển pháp-luân. Đại Bồ-Tát nầy khéo hay quán-sát tất cả chúng-sanh, dùng tướng lưỡi rộng dài mà vì họ thuyết pháp. Tiếng đó vô-ngại khắp cõi nước mười phương khiến chúng-sanh tùy sở-nghi nghe pháp đều riêng khác. Dầu biết tiếng không khởi mà khắp hiện âm-thanh. Dầu biết không sở-thuyết mà nói rộng các pháp. Diệu-âm bình-đẳng tùy loại đều hiểu riêng khác, đều dùng trí-huệ mà có thể rõ thấu. Đây gọi là như-hưởng-nhẫn thứ bảy của đại Bồ-Tát.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát như-ảnh-nhẫn ?

 Đại Bồ-Tát nầy chẳng phải sanh ở thế-gian, chẳng phải mất ở thế-gian, chẳng phải ở trong thế-gian, chẳng phải ở ngoài thế-gian, chẳng phải du hành nơi thế-gian, chẳng phải đồng với thế-gian, chẳng phải khác với thế-gian, chẳng phải qua đến thế-gian, chẳng phải chẳng qua đến thế-gian, chẳng phải trụ ở thế-gian, chẳng phải chẳng trụ ở thế-gian, chẳng phải là thế-gian, chẳng phải xuất-thế-gian, chẳng phải tu bồ-tát-hạnh, chẳng phải bỏ đại-nguyện, chẳng phải thiệt, chẳng phải chẳng thiệt. Dầu thường hành tất cả phật-pháp mà có thể làm xong tất cả thế-sự. Chẳng theo thế-lưu cũng chẳng trụ pháp-lưu.

 Ví như mặt trời, mặt trăng, nam, nữ và các vật như nhà cửa, núi rừng, sông suối vân vân, hiện bóng trong những vật thanh-tịnh như nước, dầu, châu bửu, gương sáng. Bóng cùng nước gương vân vân chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng phải ly, chẳng phải hiệp. Nơi trong giòng sông, bóng chẳng bị trôi, nơi giếng ao, bóng cũng hẳng bị chìm đắm. Dầu bóng hiện trong đó không chỗ chấp trước, nhưng các chúng-sanh biết ở chỗ đó có bóng ấy hiện, cũng biết chỗ kia không có bóng như vậy. Vật gần vật xa dầu đều hiện bóng, nhưng bóng không theo vật mà có gần xa.

 Cũng vậy, đại Bồ-Tát hay biết tự-thân và tha-thân tất cả đều là cảnh-giới của trí chẳng nhận là hai mà cho là tự tha riêng khác. Dầu vậy nhưng nơi tự quốc-độ, nơi tha quốc-độ, đều riêng sai khác đồng thời hiện khắp.

 Như một hột giống không có rễ, mầm, cọng, mắt, nhánh, lá, mà hay sanh khởi tất cả.

 Cũng vậy, đại Bồ-Tát vô-nhị mà phân-biệt hai tướng phương-tiện thiện-xảo thông đạt vô-ngại. Đây gọi là như-ảnh-nhẫn thứ tám của đại Bồ-Tát.

 Đại Bồ-Tát thành-tựu như-ảnh-nhẫn nầy dầu chẳng qua đến cõi nước mười phương mà có thể hiện khắp tất cả cõi Phật. Cũng chẳng rời đây, cũng chẳng đến kia, như bóng hiện khắp chỗ du hành vô-ngại. Làm cho chúng-sanh thấy thân sai khác đồng với tướng cứng chắc của thế-gian. Nhưng sự sai khác nầy chính là chẳng phải sai khác. Khác cũng chẳng khác không có chướng ngại.

 Đại Bồ-Tát nầy từ nơi chủng-tánh Như-Lai mà sanh thân ngữ và ý thanh-tịnh vô-ngại nên có thể được thân vô-biên sắc tướng thanh-tịnh.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát biết tất cả thế-gian thảy đều như hóa ? Nghĩa là tất cả chúng-sanh ý-nghiệp hóa, vì giác-tưởng sanh khởi. Tất cả thế-gian chư hành hóa, vì phân-biệt sanh khởi. Tất cả khổ vui điên-đảo hóa, vì vọng-thủ sanh khởi. Tất cả thế-gian pháp chẳng thiệt hóa, vì ngôn thuyết hiện khởi. Tất cả phiền-não phân-biệt hóa, vì tưởng niệm sanh khởi. Lại có thanh-tịnh điều-phục hóa, vì vô-phân-biệt hiện khởi. Nơi tam thế chẳng chuyển hóa, vì vô-sanh bình-đẳng. Bồ-Tát nguyện lực hóa, vì tu hành quảng-đại. Như-Lai đai-bi hóa, vì phương-tiện thị-hiện. Chuyển pháp-luân phương-tiện hóa, vì trí-huệ vô-úy biện-tài diễn-thuyết.

 Đại Bồ-Tát rõ biết thế-gian xuất-thế-gian hóa hiện như vậy, chứng biết, biết rộng lớn, biết vô-biên, biết đúng sự, biết tự-tại, biết chơn-thiệt. Chẳng phải hư-vọng-kiến có thể huynh động được. Tùy theo sở-hành của thế-gian cũng chẳng hư mất trí biết ấy.

 Ví như hóa chẳng từ nơi tâm phát khởi, chẳng từ nơi tâm-pháp phát-khởi, chẳng từ nơi nghiệp phát khởi, chẳng thọ quả báo, chẳng phải thế-gian sanh, chẳng phải thế-gian diệt, chẳng thể theo dõi, chẳng thể rờ chạm, chẳng phải còn lâu, chẳng phải giây lát, chẳng phải ở nơi thế-gian, chẳng phải rời thế-gian, chẳng chuyên thuộc một phương, chẳng thuộc khắp các phương, chẳng phải hữu-lượng, chẳng phải vô-lượng, chẳng nhàm, chẳng dứt, chẳng phải chẳng nhàm dứt, chẳng phải phàm, chẳng phải thánh, chẳng phải nhiễm, chẳng phải tịnh, chẳng phải sanh, chẳng phải tử, chẳng phải trí, chẳng phải ngu, chẳng phải thấy, chẳng phải chẳng thấy, chẳng phải y-tựa thế-gian, chẳng phải nhập pháp-giới, chẳng phải thông-minh, chẳng phải đần-độn, chẳng phải lấy, chẳng phải chẳng lấy, chẳng phải sanh-tử, chẳng phải niết-bàn, chẳng có, chẳng phải không có.

 Đại Bồ-Tát phương-tiện thiện-xảo như vậy, du hành thế-gian tu hạnh bồ-tát. Biết rõ thế-pháp phân thân hóa hiện mà đến, chẳng chấp thế-gian, chẳng lấy tự thân, nơi thế-gian và thân không phân-biệt. Chẳng trụ thế-gian, chẳng rời thế-gian, chẳng trụ nơi pháp, chẳng rời nơi pháp. Do bổn nguyện nên chẳng bỏ một chúng-sanh-giới, chẳng điều-phục thiểu chúng-sanh-giới, chẳng phân-biệt nơi pháp, chẳng phải chẳng phân-biệt. Biết các pháp-tánh không lai không khứ. Dầu không chỗ có mà tròn đầy phật-pháp. Rõ pháp như hóa, chẳng có chẳng không.

 Đại Bồ-Tát lúc an trụ như-hóa-nhẫn đều hay tròn đủ tất cả đạo bồ-đề của chư Phật lợi-ích chúng-sanh.

 Đây gọi là như hóa nhẫn thứ chín của đại Bồ-Tát.

 Đại Bồ-Tát thành-tựu như-hóa-nhẫn nầy, phàm việc làm ra đều đồng với hóa, ví như hóa-sĩ.

 Nơi tất cả cõi Phật không chỗ y-trụ. Nơi tất cả thế-gian không chỗ chấp lấy. Nơi tất cả phật-pháp chẳng sanh phân-biệt. Dầu vậy mà hướng đến Phật bồ-đề không rời mỏi, tu hạnh bồ-tát, rời những điên-đảo. Dầu không có thân mà hiện tất cả thân. Dầu không chỗ trụ mà trụ các quốc-độ. Dầu không có sắc mà hiện khắp các sắc. Dầu chẳng chấp lấy thiệt-tế mà chiếu sáng pháp-tánh bình-đẳng viên-mãn.

 Chư Phật-tử ! Đại Bồ-Tát nầy nơi tất cả pháp không chỗ y-chỉ nên gọi là bực giải thoát. Thảy đều bỏ rời tất cả lỗi lầm nên gọi là bực điều-phục. Chẳng động chẳng chuyển vào khắp tất cả chúng-hội Như-Lai nên gọi là bực thần-thông. Nơi pháp vô-sanh đã được thiện-xảo nên gọi là bực vô-thối. Đủ tất cả lực, núi Tu-Di núi Thiết-Vi không làm chướng được, nên gọi là bực vô-ngại.

 Chư Phật-tử ! Thế nào là đại Bồ-Tát như-không-nhẫn ?

 Đại Bồ-Tát nầy rõ tất cả pháp-giới như hư-không, vì vô-tướng. Tất cả thế-giới như hư-không, vì vô-khởi. Tất cả pháp như hư-không vì vô-nhị. Tất cả chúng-sanh hạnh như hư-không, vì vô-sở-hành. Tất cả Phật như hư-không, vì vô-phân-biệt. Tất cả phật-lực như hư-không, vì vô-sai-biệt. Tất cả thiền-định như hư-không, vì tam-thế bình-đẳng. Tất cả pháp diễn thuyết như hư-không, vì chẳng ngôn thuyết được. Tất cả thân Phật như hư-không, vì vô-trước vô-ngại.

 Bồ-Tát dùng phương-tiện như hư-không rõ thấu tất cả pháp đều không chỗ có.

 Đại Bồ-Tát dùng nhẫn-trí như hư-không lúc thấu rõ tất cả pháp thời được thân và thân-nghiệp như hư-không, được ngữ và ngữ-nghiệp như hư-không, được ý và ý-nghiệp như hư-không.

 Ví như hư-không, tất cả pháp y-tựa, chẳng sanh chẳng diệt.

 Cũng vậy, đại Bồ-Tát, tất cả pháp thân chẳng sanh chẳng diệt.

 Ví như hư-không, chẳng thể phá hoại được. Cũng vậy, đại Bồ Tát, tất cả trí-huệ các lực chẳng thể phá hoại được.

 Ví như hư-không là chỗ y-chỉ của tất cả thế-gian mà không sở-y. Cũng vậy, đại Bồ-Tát là chỗ y-chỉ của tất cả pháp mà không sở-y.

 Ví như hư-không bất sanh bất diệt mà hay giữ lấy tất cả thế-gian sanh diệt. Cũng vậy, đại Bồ-Tát không hướng không đắc mà hay thị-hiện hướng đắc, khiến khắp thế-gian tu hành thanh-tịnh.

 Ví như hư-không chẳng có chỗ chẳng có góc mà hay hiển-hiện vô-biên chỗ góc. Cũng vậy, đại Bồ-Tát không nghiệp không báo mà hay hiển-thị những thứ nghiệp báo.

 Ví như hư-không chẳng đi chẳng đứng mà hay thị-hiện các thứ oai-nghi. Cũng vậy, đại Bồ-Tát chẳng đi chẳng đứng mà hay phân-biệt tất cả các hành.

 Ví như hư-không chẳng phải sắc chẳng phẳng phải phi-sắc mà hay thi-hiện các loại màu sắc. Cũng vậy, đại Bồ-Tát chẳng phải sắc thế-gian, chẳng phải sắc xuất thế-gian mà hay thị-hiện tất cả thân sắc.

 Ví như hư-không chẳng phải lâu chẳng phải gần mà hay ở lâu hiển hiện tất cả vật. Cũng vậy, đại Bồ-Tát chẳng phải lâu chẳng phải gần mà hay ở lâu hiển-thị những hạnh của Bồ-Tát làm.

 Ví như hư-không chẳng phải tịnh chẳng phải uế, chẳng rời tịnh uế. Cũng vậy, đại Bồ-Tát chẳng phải chướng chẳng phải không chướng, chẳng rời chướng không chướng.

 Ví như hư-không tất cả thế-gian đều hiện ra trước, chẳng phải hiện ra trước tất cả thế-gian. Cũng vậy, đại Bồ-Tát tất cả pháp đều hiện ra trước, chẳng phải hiện ra trước tất cả pháp.

 Ví như hư-không vào khắp tất cả mà không biên-tế. Cũng vậy, đại Bồ-Tát vào khắp tất cả pháp, mà tâm Bồ-Tát không biên-tế. Tõi sao vậy ? Vì chỗ làm của Bồ-Tát như hư-không. Nghĩa là việc tu tập, việc nghiêm-tịnh, việc thành-tựu thảy đều bình-đẳng, một thể, một vị, một thứ phần lượng. Như hư-không thanh-tịnh khắp tất cả chỗ.

 Đại Bồ-Tát như vậy chứng biết tất cả pháp, với tất cả pháp không có phân-biệt. Nghiêm-tịnh tất cả Phật-độ. Viên-mãn tất cả thân vô-sở-y. Rõ tất cả phương không có mê lầm. Đủ tất cả lực chẳng thể phá hoại. Đầy đủ tất cả vô-biên công-đức. Đã đến tất cả pháp-xứ thậm-thâm. Thông đạt tất cả đạo ba-la-mật. Ngồi khắp tất cả tòa kim-cang. Phát khắp tất cả tiếng tùy loại. Vì tất cả thế-gian mà chuyển pháp-luân chưa từng lỗi thời.

 Đây gọi là hư-không-nhẫn thứ mười của đại Bồ-Tát.

 Đại Bồ-Tát thành-tựu nhẫn nầy thời được thân Như-Lai, vì vô-khứ. Được thân vô-sanh vì vô-diệt. Được thân bất-động, vì vô-hoại. Được thân chơn-thiệt, vì rời hư-vọng. Được thân nhứt-tướng, vì vô-tướng. Được thân vô-lượng, vì phật-lực vô-lượng. Được thân bình-đẳng, vì đồng tướng như. Được thân vô-sai-biệt, vì quán tam-thế bình-đẳng. Được thân đến tất cả chỗ, vì tịnh nhãn chiếu khắp không chướng ngại. Được thân rời dục-tế, vì biết tất cả pháp không hiệp tan. Được thân hư-không vô-biên-tế, vì phước-đức-tạng vô tận như hư-không. Được thân biện-tài vô-đoạn vô-tận pháp-tánh bình-đẳng, vì biết tất cả, pháp-tướng chỉ là một tướng, không tánh làm tánh như hư-không. Được thân âm-thanh vô-lượng vô-ngại, vì không chướng ngại như hư-không. Được thân đầy đủ tất cả bồ-tát hạnh thiện-xảo thanh-tịnh, vì nơi tất cả chỗ đều không chướng-ngại như hư-không. Được thân tất cả phật-pháp thứ đệ tiếp nối,vì chẳng thể đoạn tuyệt như hư-không. Được thân trong tất cả cõi Phật hiện vô-lượng phật-độ, vì rời tham chấp như hư-không vô-biên. Được thân thị-hiện tất cả pháp tự-tại không thôi nghỉ, vì như hư-không chẳng có biên-tế. Được thân tất cả thế-lực kiên cố chẳng thể phá hoại, vì như hư-không nhiệm-trì tất cả thế-gian. Được thân các căn sáng lẹ như kim-cang kiên-cố không thể phá hoại, vì như hư-không tất cả kiếp hỏa chẳng đốt cháy được. Được thân có sức giữ lấy tất cả thế-gian, vì sức trí-huệ như hư-không.

 Chư Phật-tử ! Trên đây gọi là mười nhẫn của đại Bồ-Tát.

 Bấy giờ Phổ-Hiền Bồ-Tát muốn tuyên lại nghĩa nầy mà nói kệ rằng :
 
 

 Như trong đời có người

 Nghe chỗ có kho báu

 Vì có thể hưởng được

 Nên lòng rất vui mừng.

 Cũng vậy, đại trí - huệ

 Bồ - Tát chơn phật - tử

 Được nghe các phật - pháp

 Tướng thậm - thâm tịch - diệt,

 Lúc nghe thâm - pháp nầy

 Trong tâm được an - ổn

 Chẳng kinh cũng chẳng hãi

 Cũng chẳng sanh sợ - sệt.

 Đại - Sĩ cầu bồ - đề

 Nghe tiếng quảng đại nầy

 Tâm tịnh hay kham nhẫn

 Nơi đây không nghi lầm.

 Tự nghĩ : do nghe được

 Pháp thậm - thâm vi - diệu

 Sẽ thành nhứt - thiết - trí

 Nhơn - Thiên Đại - Đạo - Sư.

 Bồ - Tát nghe tiếng nầy

 Trong lòng rất hoan - hỉ

 Phát sanh ý kiên - cố

 Nguyện cầu các phật - pháp

 Vì mến thích bồ - đề

 Nên tâm lần điều phục

 Lòng tin thêm tăng trưởng

 Không trái chê chánh - pháp.

 Thế nên nghe tiếng nầy

 Nơi lòng được kham nhẫn

 An trụ vững chẳng động.

 Tu hành hạnh Bồ - Tát.

 Vì cầu đạo bồ - đề

 Chuyên tu hướng về đó

 Tinh - tấn không thối chuyển

 Chẳng bỏ những thiện nghiệp.

 Vì cầu đạo bồ - đề

 Trong lòng không sợ hãi

 Nghe pháp thêm dũng - mãnh

 Cúng Phật khiến hoan - hỉ.

 Như có người đại - phước

 Gặp được kho chơn - kim

 Theo thân chỗ nên đeo

 Chế tạo đồ trang - nghiêm.

 Bồ - Tát cũng như vậy

 Nghe nghĩa thậm - thâm này.

 Tư - duy thêm trí - huệ

 Để tu pháp tùy thuận.

 Pháp hữu cũng thuận biết,

 Pháp vô cũng thuận biết,

 Tùy pháp đó như vậy

 Như vậy biết các pháp.

 Thành - tựu tâm thanh - tịnh

 Minh triệt rất hoan - hỷ

 Biết pháp theo duyên khởi

 Dũng - mãnh siêng tu tập.

 Bình - đẳng quán các pháp

 Biết rõ tự tánh đó

 Chẳng trái phật pháp - tạng

 Biết khắp tất cả pháp.

 Chí nguyện thường kiên cố

 Nghiêm tịnh Phật bồ - đề

 Bất - động như Tu - Di

 Nhứt tâm cầu chánh - giác.

 Do phát tâm tinh - tấn

 Lại tu đạo tam - muội

 Vô - lượng kiếp siêng làm

 Chưa từng có thối thất.

 Pháp của Bồ - Tát nhập

 Là chỗ đi của Phật

 Nơi đây rõ biết được

 Thời không lòng lười chán.

 Như lời chư Phật dạy

 Bình - đẳng quán các pháp

 Chẳng phải nhẫn bất - đẳng.

 Thành được trí bình - đẳng.

 Tùy thuận lời Phật nói

 Thành - tựu môn pháp nầy

 Biết rõ đúng như pháp

 Cũng chẳng phân - biệt pháp.

 Trong Tam - Thập - Tam Thiên

 Có bao nhiêu Thiên - Tử

 Cùng đồng ăn một bát

 Đồ ăn đều khác nhau.

 Đồ ăn riêng nhiều món

 Chẳng từ mười phương đến

 Đúng theo nghiệp đã tu

 Tự - nhiên hiện trong bát.

 Bồ - Tát cũng như vậy

 Quán - sát tất cả pháp

 Đều từ nhơn duyên khởi

 Vô - sanh nên vô - diệt,

 Vô - diệt nên vô - tận,

 Vô - tận nên vô - nhiễm,

 Nơi pháp biến - dị kia

 Biết rõ không biến - dị.

 Không đổi thời không xứ

 Không xứ thời tịch - diệt,

 Trong lòng không nhiễm trước

 Nguyện độ các chúng - sanh.

 Chuyên niệm nơi phật-pháp

 Chưa từng có tán động

 Mà dùng tâm bi nguyện

 Phương - tiện đi trong đời.

 Siêng cầu nơi thập - lực

 Ở đời mà chẳng trụ,

 Không đi cũng không đến

 Phương - tiện khéo thuyết pháp.

 Nhẫn nầy là trên hết

 Biết pháp là vô - tận

 Vào nơi chơn pháp - giới

 Thiệt cũng không sở - nhập.

 Bồ - Tát trụ nhẫn nầy

 Thấy khắp các Như - Lai

 Đồng thời thọ ký cho

 Gọi là thọ Phật - chức.

 Thấu rõ pháp tam - thế

 Tướng tịch - diệt thanh - tịnh

 Mà đều độ chúng - sanh

 Để ở trong đường lành.

 Các loại pháp thế - gian

 Tất cả đều như huyễn

 Nếu biết được như vậy

 Thời tâm không bị động

 Các nghiệp từ tâm sanh

 Nên nói tâm như huyễn

 Nếu rời phân - biệt nầy

 Diệt hết cõi hữu - lậu.

 Ví như nhà huyễn - thuật

 Khắp hiện các sắc tượng

 Cho chúng luống tham vui

 Rốt ráo vô - sở - đắc.

 Thế - gian cũng như vậy

 Tất cả đều như huyễn

 Vô - tánh cũng vô - sanh

 Thị - hiện có các thứ.

 Độ thoát các chúng - sanh

 Khiến biết pháp như huyễn

 Chúng -sanh chẳng khác huyễn

 Biết huyễn không chúng - sanh.

 Chúng - sanh và quốc - độ

 Những pháp trong tam - thế

 Như vậy đều không thừa

 Tất cả đều như huyễn.

 Huyễn làm hình nam nữ

 Và voi, ngựa, trâu, dê

 Nhà cửa, núi, suối, ao

 Vườn, rừng, cùng bông, trái,

 Vật huyễn không tri - giác

 Cũng không có trụ xứ

 Rốt ráo tướng tịch - diệt

 Chỉ theo phân - biệt hiện.

 Bồ - Tát được như vậy

 Thấy khắp các thế - gian

 Tất cả pháp hữu vô

 Thấu rõ đều như huyễn.

 Chúng - sanh và quốc - độ

 Các thứ nghiệp tạo ra

 Vào nơi như - huyễn - tế

 Với kia không nương chấp.

 Được thiện - xảo như vậy

 Tịch - diệt không hí - luận

 Trụ nơi bực vô - ngại

 Khắp hiện oai - lực - lớn.

 Các Phật - tử dũng - mãnh

 Tùy thuận nhập diệu - pháp

 Khéo quán tất cả tưởng

 Ràng - rịt các thế - gian.

 Các tưởng như dương - diệm

 Khiến chúng hiểu điên - đảo.

 Chúng - sanh đều riêng khác

 Hình loại chẳng phải một

 Thấu rõ đều là tưởng

 Bỏ rời những điên - đảo.

 Chúng - sanh đều riêng khác

 Hình loại chẳng phải một

 Thấu rõ đều là tưởng

 Tất cả không chơn - thiệt.

 Các chúng - sanh mười phương

 Đều bị tưởng che ngăn

 Nếu bỏ thấy điên - đảo

 Thời diệt tưởng thế - gian.

 Thế - gian như dương - diệm

 Do tưởng có sai khác

 Biết thế - gian do tưởng

 Xa lìa ba điên - đảo.

 Như - nắng quá gắt nóng

 Người đời cho là nước

 Thiệt ra không có nước

 Người trí chẳng nên cầu.

 Chúng - sanh cũng như vậy

 Đời loài đều không có

 Như diệm ở nơi tưởng

 Cảnh - giới tâm vô - ngại.

 Nếu lìa những vọng tưởng

 Cũng lìa những hí - luận

 Kẻ ngu - si chấp tưởng

 Đều khiến được giải - thoát.

 Xa lìa tâm kiêu - mạn

 Trừ diệt tưởng thế - gian

 Ở chỗ tận vô - tận

 Phương - tiện của Bồ - Tát.

 Bồ - Tát biết thế pháp

 Tất cả đều như mộng

 Chẳng chỗ, chẳng không chỗ

 Thể - tánh hằng tịch - diệt.

 Các pháp vô - phân - biệt

 Như mộng, tâm không khác

 Tam thế những thế - gian

 Tất cả đều như vậy.

 Tánh mộng không sanh - diệt

 Cũng không có phương sở

 Ba cõi đều như vậy

 Người thấy tâm giải - thoát.

 Mộng chẳng tại thế - gian

 Chẳng tại phi thế - gian

 Cả hai chẳng phân - biệt

 Được nhập nơi bực nhẫn.

 Như trong mộng ngó thấy

 Những cảnh loại khác nhau,

 Thế - gian cũng như vậy

 Cùng mộng không sai khác.

 Người trụ trong mộng - định

 Biết đời đều như mộng

 Chẳng phải đồng và khác

 Chẳng phải một và nhiều.

 Chúng - sanh các cõi, nghiệp,

 Tạp - nhiễm và thanh - tịnh

 Như vậy đều biết rõ

 Cùng mộng đều bình - đẳng.

 Hạnh của Bồ - Tát làm

 Và cùng các đại nguyện

 Biết rõ đều như mộng

 Cùng thế - gian không khác.

 Biết thế - gian không tịch

 Chẳng hoại nơi thế - pháp

 Như chiêm bao ngó thấy

 Những hình sắc dài vắn.

 Gọi đây : như - mộng - nhẫn

 Nhơn đây biết thế pháp

 Mau thành trí vô - ngại

 Rộng độ các chúng - sanh.

 Tu hành hạnh như vậy

 Xuất sanh trí rộng lớn

 Khéo biết các pháp - tánh

 Nơi pháp tâm không chấp.

 Tất cả các thế - gian

 Những âm - thanh sai khác

 Chẳng phải trong, chẳng ngoài

 Biết đó đều như vang.

 Như nghe các tiếng vang

 Tâm chẳng sanh phân - biệt

 Bồ - Tát nghe âm - thanh

 Không phân - biệt cũng vậy.

 Chiêm ngưỡng các Như - Lai

 Và nghe nói pháp - âm

 Diễn khế - kinh vô - lượng

 Dầu nghe mà không chấp.

 Như vang không lai khứ

 Tiếng đã nghe cũng vậy

 Mà hay phân - biệt pháp

 Cùng pháp không trái lầm.

 Khéo biết các âm - thanh

 Nơi tiếng không phân - biệt

 Biết tiếng đều không - tịch

 Khắp phát âm thanh - tịnh

 Biết pháp chẳng tại lời

 Khéo vào vô - ngôn - tế

 Mà hay hiện ngôn thuyết

 Như vang khắp thế - gian.

 Biết rõ ngôn - ngữ - đạo

 Đầy đủ phần âm - thanh

 Biết thanh - tánh không tịch

 Dùng thế - ngôn để nói

 Như âm - thanh thế - gian

 Hiện đồng pháp phân - biệt

 Tiếng đó đều cùng khắp

 Khai ngộ các quần - sanh.

 Bồ - Tát được nhẫn nầy

 Tịnh - âm độ thế - gian

 Khéo diễn thuyết ba đời

 Nơi đời không chấp trước.

 Vì muốn lợi thế - gian

 Chuyên ý cầu bồ - đề

 Mà thường nhập pháp - tánh

 Nơi đó vô - phân - biệt.

 Quán khắp các thế - gian

 Tịch - diệt không thể - tánh

 Mà thường làm lợi ích

 Tu hành ý chẳng động.

 Chẳng trụ nơi thế - gian

 Cũng chẳng rời thế - gian

 Nơi thế không sở - y

 Y - xứ bất - khả - đắc.

 Rõ biết tánh thế - gian

 Nơi tánh không nhiễm trước

 Dầu chẳng nương thế - gian

 Giáo hóa khiến siêu độ.

 Bao nhiêu pháp thế - gian

 Đều biết tự - tánh nó

 Rõ pháp không có hai

 Cũng không chấp không hai

 Tâm cũng chẳng rời thế - gian

 Cũng chẳng trụ thế - gian

 Chẳng phải ngoài thế - gian

 Tu hành nhứt - thiết - trí.

 Ví như bóng trong nước

 Chẳng phải trong chẳng ngoài

 Bồ - Tát cầu bồ - đề

 Biết thế chẳng phải thế

 Chẳng nơi thế trụ xuất

 Vì thế bất - khả - thuyết

 Cũng chẳng trụ trong ngoài

 Như bóng hiện thế - gian.

 Nhập nghĩa thậm - thâm nầy

 Lìa nhơ đều sáng suốt

 Chẳng bỏ tâm bổn - thệ

 Đèn trí - huệ chiếu khắp.

 Thế - gian không biên - tế

 Trí nhập cũng vô - biên

 Giáo hóa khắp quần - sanh

 Khiến họ bỏ những chấp.

 Quán - sát pháp thậm - thâm

 Lợi ích những quần - sanh

 Từ đây nhập vào trí

 Tu hành tất cả đạo.

 Bồ - Tát quán các pháp

 Biết chắc đều như hóa

 Mà tu hạnh như hóa

 Rốt ráo trọn chẳng bỏ.

 Tùy thuận hóa - tự - tánh

 Tu tập đạo bồ - đề

 Tất cả pháp như hóa

 Bồ - Tát hạnh cũng vậy.

 Tất cả các thế - gian

 Và cùng vô - lượng nghiệp

 Bình - đẳng đều như hóa

 Rốt ráo trụ tịch - diệt.

 Những Phật trong tam thế

 Tất cả cũng như hóa

 Bổn - nguyện tu các hạnh

 Biến - hóa thành Như - Lai.

 Phật dùng đại từ bi

 Độ thoát hóa chúng - sanh

 Độ thoát cũng như hóa

 Hóa - lực vì thuyết pháp.

 Biết thế - gian như hóa

 Chẳng phân - biệt thế - gian

 Hóa - sự nhiều loại khác

 Đều do nghiệp sai - biệt.

 Tu tập hạnh bồ - đề

 Trang - nghiêm nơi hóa - thành

 Vô - lượng khéo trang - nghiêm

 Như nghiệp làm thế - gian.

 Pháp nầy rời phân - biệt

 Cũng chẳng phân - biệt pháp

 Cả hai đều tịch - diệt

 Hạnh Bồ - Tát như vậy.

 Hóa - hải rõ nơi trí,

 Hóa - tánh ấn thế -gian

 Hóa chẳng phải sanh diệt

 Trí - huệ cũng như vậy.

 Nhẫn thứ mười quán rõ

 Chúng - sanh và các pháp

 Thể - tánh đều tịch - diệt

 Không xứ - sở như không

 Được trí như - không nầy

 Lìa hẳn các chấp trước

 Như hư - không vô - tướng

 Nơi thế - gian vô - ngại
 
 

 Thành - tựu sức không - nhẫn

 Như hư - không vô - tận

 Cảnh - giới như hư - không

 Chẳng phân - biệt hư - không.

 Hư - không không thể tánh

 Cũng chẳng phải đoạn diệt

 Cũng không những sai khác

 Trí - lực cũng như vậy

 Hư - không không sơ - tế

 Cũng không có trung, hậu

 Lượng đó bất - khả - đắc

 Trí Bồ - Tát cũng vậy.

 Quán pháp - tánh như vậy

 Tất cả như hư - không

 Không sanh cũng không diệt

 Sở - đắc của Bồ - Tát.

 Tự trụ pháp như - không

 Lại vì chúng - sanh nói

 Hàng - phục tất cả ma

 Phương - tiện của nhẫn nầy.

 Tướng thế - gian sai khác

 Đều không chẳng có tướng

 Vào nơi chỗ vô - tướng

 Các tướng đều bình - đẳng.

 Chỉ dùng một phương - tiện

 Vào khắp các thế - gian

 Là biết pháp tam - thế

 Đều đồng tánh hư - không.

 Trí - huệ cùng âm thanh

 Và thân của Bồ - Tát

 Tánh đó như hư - không

 Tất cả đều tịch - diệt.

 Mười thứ nhẫn như vậy

 Phật - tử đã tu hành

 Tâm họ khéo an - trụ

 Rộng vì chúng - sanh nói.

 Nơi đây khéo tu học

 Thành - tựu sức quảng - đại

 Pháp - lực và trí - lực

 Là phương - tiện bồ - đề.

 Thông đạt môn nhẫn nầy

 Thành - tựu trí vô - ngại

 Vượt hơn tất cả chúng

 Chuyển pháp - luân vô - thượng.

 Hạnh quảng - đại đã tu

 Lượng đó bất - khả - đắc

 Điều - Ngự - Sư trí - hải

 Mới phân - biệt biết được

 Bỏ ngã mà tu hành

 Nhập vào pháp - tánh sâu

 Tâm thường trụ tịnh - pháp

 Dùng đây thí quần - sanh.

 Chúng - sanh và sát - trần

 Còn biết được số đó

 Công - đức của Bồ -Tát

 Không thể biết hạn lượng.

 Bồ - Tát hay thành - tựu

 Mười thứ nhẫn như vậy

 Trí - huệ và công - hạnh

 Chúng - sanh chẳng lường được.