Chùa Phật Ân 475 Minnesota Avenue Roseville, MN 55113. Tel: (651) 482-7990 - Web: www.PhatAn.org. Email: chua_phatan@yahoo.com.
THƯ MỤC TÁC GIẢ

TÌM HIỂU VỀ LỄ BÁI

21 Tháng Chín 201610:19 CH(Xem: 2064)
TÌM HIỂU VỀ LỄ BÁI

TÌM HIỂU VỀ LỄ BÁI

Nguyên Khang

  

CÂU HỎI THỨ NHẤT: Lễ bái và Tu Đạo có khác nhau không? Và sự khác biệt như thế nào?

 Trả lời: Thưa Qúy bạn! Đây là một câu hỏi rất đáng ghi nhận và cần được phân tích nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh, để giúp cho tất cả mọi người ở mọi tầng lớp xã hội hiểu rõ một cách cặn kẽ cả về Lý lẫn Nghĩa văn tự. Hầu tránh được những ngộ nhận nhầm lẫn mà trên thực tế trong đời sống chúng ta thường nhận biết, cũng như nghe thấy những điều phỉ báng vô minh, hay thực hành lễ bái trong ý thức mê tín dị đoan, hoặc thực hành lễ bái, tu đạo trong sự thiếu hiểu biết, mơ hồ về những việc mà mình đã và đang làm.

Trả lời thật đầy đủ về câu hỏi này, tôi thiết nghĩ cần phải tìm đến những cao nhân tài cao trí rông, giàu kinh nghiêm của bậc Tu hành mới mong trả lời thỏa mãn sự hiểu biết của qúy bạn.

Tuy nhiên các bạn đã đặt câu hỏi, thì bằng vào những gì mà tôi đã thu thập được trong quá trình tu tập, tôi cũng xin mạnh bạo trình bày (chứ không dám nhận là lời giải đáp) để hầu cùng Qúy bạn đồng nghiên cứu học hỏi thêm trên con đường học Đạo tu tập.

 Trước hết xin bàn về “Lễ bái”:

            Lễ bái khó ai mà xác minh được nó bắt đầu vào những năm tháng nào, ở thời kỳ nào của loài người. Tuy nhiên nếu xét về lịch sử loài người từ cổ chí kim, nơi nào có con người sinh sống thì ở đó đều hình thành lễ nghi hay nghi thức lễ bái. Những nghi thức hay lễ nghi tùy từng địa phương, tùy từng sắc dân chẳng nơi nào giống nơi nào cả, tựu chung ta gọi là: “Lễ bái”.

 

Vậy Lễ bái là gì? Và tại sao con người cần phải có nhu cầu Lễ bái?

            Lễ bái là một cụm từ gồm từ “Lễ” và từ “Bái” kết hợp thành “Lễ bái”. Vậy thế nào là “Lễ” và thế nào là “Bái”? (ở đây tôi không bàn tới vấn đề âm ngữ phổ cập từ tiếng Hán mà chỉ đề cập như là một từ Việt ngữ thông dụng trong dân gian)

Luận thảo về “Lễ”:

            Ngày còn nhỏ lúc cắp sách tới trường hay ở trong sinh hoạt hàng ngày ta thường nghe thấy câu thành ngữ: “Tiên học Lễ hậu học Văn” (có nghĩa là Lễ được trọng hơn Văn). Vậy Lễ là một nền văn hóa (chứ không phải là văn học) của một sắc dân, của một dân tộc, một quốc gia. Danh từ chung trong văn học gọi nó là: “Phong tục tập quán” như câu: “Nhập gia tùy tục” hay câu “Gia có Gia phong, Quốc có Quốc pháp” vậy.

Tóm lại Lễ là những cổ tục đã được cấu trúc bằng một thời gian khá dài đi cùng với một lịch sử của một dân tộc hay một Quốc gia (xuyên qua những thể chế hay những triều đại đã trị vì dân tộc hay Quốc gia đó) mà hình thành. Nó được ghi nhận, được chấp nhận trong văn tự cũng như tập quán sinh hoạt trong dân gian. Tới hiện nay ta còn thấy ở đâu đó trong các sắc dân thiểu số với một đời sống lạc hậu man khai, họ có những tập quán thực hành nghi lễ riêng mà theo cách nhìn của thời đại văn minh này cho nó là ngộ nghĩnh man dại. Còn ở thời đại văn minh mà chúng ta đang sống thì sao? Nhìn khắp thế giới ở mọi Quốc gia có mặt trên hoàn cầu này thì ở đâu cũng có Lễ , không phải chỉ một nghi thức Lễ, mà có muôn vàn muôn vạn Lễ khác nhau với muôn hình muôn vẻ. Trên bình diện Quốc gia ta thấy trong một năm có trên chục ngày nghỉ Lễ như Lễ Quốc khánh, Tết lễ, Lễ thành lập triều đại, Lễ sinh nhật của Vĩ nhân có công lập quốc, v.v.., Tôn giáo cũng có Lễ riêng của từng tôn giáo, Gia hộ lại có Lễ riêng của từng gia hộ. Cộng đồng, đoàn thể, cá thể con người cũng có Lễ riêng của họ.

Tôi tạm phân tách “Lễ” bao gồm những phần như sau:

1/ Phần hình thức: Hình thức là sự trang trí, trưng bày cho một biểu tượng mà qua đó ta có thể phân biệt được “Lễ” đó thuộc về sắc tộc, dân tộc, Quốc gia nào.

Thí dụ như: Đạo Phật thì có Đức Phật trên Tam Bảo, Đạo Cơ Đốc thì có tượng Đức Chúa, các buổi Lễ của Úc Đại Lợi thì phải bài trí lá Quốc Kỳ Úc v.v..

2/ Phần Lễ Phẩm: Lễ phẩm là những phẩm vật mà con người muốn dâng lên các Bậc vị mà họ tôn thờ, hay mong cầu một sự trợ giúp. Thông qua vật phẩm người ta có thể biết được tính chất của buổi lễ (tức mục đích của nghi lễ) mà kẻ hành lễ mong cầu.

Thí dụ như: Lễ Phật thì dâng phẩm vật bằng mâm Ngũ quả (năm thứ trái cây) với các loại hoa bông. Lễ thánh hay Lễ gia Tiên thường thấy người ta dâng phẩm vật bằng Tam sinh (ba loại động vật là loài biết bay (Điểu vật: loài có cánh là biểu tượng), biết lội (Thủy vật: loài Cá là biểu tượng), biết chạy (Địa vật: là động vật bốn chân như Heo, Bò, Dê là biểu tượng). Lễ cưới hỏi, Lễ chúc Thọ thường là bánh ngọt, quà tặng, phong bao tiền, vàng, qúy kim. Lễ Tang thường là cúng cơm với vòng hoa, liễng phướn, v.v...

3/ Phần nghi thức: Nghi thức là phương cách hành Lễ. Tùy theo những hình thức bài trí cộng với những phẩm vật dâng lễ mà có những phương cách hành lễ khác nhau, cũng qua cách hành lễ mà người ta có thể phân biệt được tính chất của buổi lễ cũng như nhận biết được sắc thái của những thành phần mà người tổ chức thuộc về sắc dân nào, dân tộc nào, quốc gia nào, và mục đích của buổi lễ mong cầu những gì.Và phần nghi thức này luôn luôn bao gồm những nghi thức “Bái”.

            Ngoài ba phần trên, “Lễ” còn bao hàm một nghĩa rộng lớn khác, đó là “Lễ Phép” Tôi không muốn đi sâu bàn thảo về phần này ở đây, mà xin hẹn các bạn vào dịp khác khi ta hội đủ nhân duyên. Tuy nhiên tôi cũng xin mạn phép qúy bạn được bàn rộng ra một chút về “Lễ phép”.

“Lễ phép”: Là phép tắc, là những điều quy hướng dẫn hay dạy cách “Đối nhân xử thế” trong mối quan hệ giữa người với người. Tức là dạy cái phép làm người (Ý nói về đạo đức của con người), cụ thể có những phép như sau:

a/ Với cá nhân (tự bản thể): là phép “Lễ độ”. Như biết tự trọng, biết khiêm cung, biết kính trên nhường dưới v.v…

b/ Với gia hộ (gia đình): Là phép “Gia huấn”. Như biết hiếu đễ với ông bà cha mẹ, anh em biết thương yêu, đùm bọc nhau, v.v…

c/ Với làng, xã (địa phương), quốc gia (đất nước): Thì có “lệ làng, xã tắc, phép nước”. Như biết Tôn ty trật tự, tôn trọng lệ làng phép nước, hành xử đúng quyền công dân, v.v…

d/ Với xã hội (chính quyền): Thì có nền giáo dục. Như biết Kính thầy yêu bạn, thượng tôn luật pháp, biết xử sự công bằng, bác ái, “Tứ hải giai huynh đệ”, v.v…

e/ Với Đạo (Tôn giáo) thì có Lễ giáo. Như biết tin vào Đạo, biết Tôn sư trọng Đạo, biết hành thiện lánh ác, tu cải bản thân, yêu thương muôn loài, sống Từ bi bác ái, v.v…    

 

Luận thảo về “Bái”:

“Bái” là hành động của con người thực hành tham gia trong buổi Lễ. Mỗi buổi Lễ có những phương cách “Bái” riêng, tùy theo cách phân định của từng sắc thái dân tộc, quốc gia đã hình thành một phong cách có tính truyền thống lâu đời được lưu giữ và duy trì (có thể có những cải cách, sửa đổi theo tính thời gian, theo sở thích của người lãnh đạo đề đặt thêm).

“Bái” có những phương thức hành Bái như sau:

1/ Đứng Bái: (còn có danh từ là Vái, Lạy). Tuy đứng làm lễ nhưng tùy theo phong tục tập quán khác nhau mà động tác Bái có khác nhau.

2/ Qùy Bái: (còn có danh từ là Lạy). Tuy qùy nhưng cũng tùy theo phong tục tập quán mà động tác thực hành cũng khác nhau.

3/ Ngồi Bái: (còn có danh từ là Tọa Tụng,Vái, Lạy). Cũng có nhiều cách thực hành khác nhau theo phong tục tập quán riêng.

4/ Hành Bái: (Bái, lạy trong những nghi thức rước lễ). Hoặc hành Tụng, hành Thiền và cũng có những cách thực hành khác nhau, tùy theo hình thức lễ lạc, tùy theo mỗi tôn giáo.

Ngoài ra còn có những thể cách kết hợp các phương thức trên như đứng lên qùy xuống mới thực hành xong một động tác của Bái v.v…

“Bái” nhằm thể hiện gì trong Ý Niệm của người hành Lễ?

            Những phương thức hành Bái (Vái, Lạy) trong các buổi Lễ không phải đơn giản chỉ là việc làm vô bổ, không có ý nghĩa gì hoặc giả chỉ là một thủ thức bày đặt buộc những người tham dự (Hội viên, thành viên, Đệ tử, Con Chiên, Tín Hữu, v.v…) phải tuân hành một cách mu muội, mù quáng như là một thứ mệnh lệnh trong quân ngũ, hay như một Chiếu Chỉ, một pháp lệnh từ cấp quan quyền ban xuống.

             Mà ngược lại, mỗi một động tác hành lễ Bái Lạy là một phương pháp hàm dưỡng một nội dung triết lý, luân lý, Đạo Lý nhằm giáo dục và rèn luyện con người đang sống trong cái cộng đồng của phương thức thực hiện buổi Lễ đó. Do đó mà tùy theo thông lệ của từng dân tộc, quốc gia, tôn giáo mà người ta có những quy ước diễn giải cái Đạo Lý hành xử qua phương pháp của sự Bái Lạy. Tỷ như Ý nghĩa của việc chắp hai bàn tay vào nhau (cách hành Bái, Lạy trong Đạo Phật), cách làm Dấu (cách hành Bái Lạy Chúa trong Cơ Đốc giáo), cách chụm tay Bái Lạy (của Khổng Giáo), v.v… chắc chắn đều có bao hàm ý nghĩa Đạo Lý, trong đó được diễn đạt qua phương cách của người hành Lễ (ở đây tôi không muốn giải thích cụ thể về những thông đạt qua các phương thức Bái Lạy mà xin qúy bạn hãy tìm học hỏi qua các Vị Lãnh Đạo của tôn giáo, Lãnh tụ dân tộc, qua các kinh điển ghi chép lưu giữ, qua các Bộ, sở, ban, ngành phụ trách về Lễ lạc, khánh tiết trong các cấp chính quyền của từng quốc gia) chắc chắn các bạn sẽ tìm hiểu được nhiều điều lý thú.

Nói đến Bái Lạy thì không thể không nói đến việc Thờ Phụng hay Thờ Cúng. Cũng có thể nói việc Thờ Phụng hay Thờ Cúng cũng đồng nghĩa với việc Lễ Bái. Nó có khác nhau chăng cũng chỉ là việc dùng ngôn từ để chỉ cùng một sự việc mà thôi, qua cách nói hình dung từ (Thờ Phụng, Thờ Cúng) hay động từ (Lễ Bái).

Việc Thờ Phụng, Lễ Bái là một cổ tục có từ lâu đời của mọi sắc dân, mọi dân tộc và mọi quốc gia. Có thể nói nó đồng hiện hữu cùng với sự có mặt của con người ngay từ thuở man khai. Thât khó mà trả lời là tại sao từ khi có con người, con người lại hết sức tự nhiên hình thành sự thờ phụng lễ bái như vậy. Hỏi tức là trả lời! Đã là một cấu trúc tự nhiên và cần thiết trong đời sống của con người thì điều tất yếu là việc Thờ phụng, lễ bái phải mang lại lợi lạc cho đời sống của con người và cũng bởi cái lẽ đó mà nó được con người đúc kết duy trì và phát triển, rồi cấu trúc cho nó trở thành một sở hữu, hữu dụng cho đồng loại mình. Cũng chính vì cái lẽ tự nhiên này mà từ ngàn xưa cho tới nay cho dù con người ở mọi nơi trên địa cầu này tuy xa nhau muôn dặm, không có thông tin liên lạc như ngày nay mà chẳng ai bảo ai, khắp mọi nơi, đâu đâu cũng tự nhiên hình thành cho cộng đồng mình, cho quốc gia mình một hình thức Thờ phụng, lễ bái riêng, mà bây giờ ta gọi nó là nhữngphong tục tập quán. Phải không qúy bạn? Đặt câu hỏi ra như vậy là tôi muốn qúy bạn hiểu một cách nôm na rằng: Mối quan hệ giữa việc Lễ bái với đời sống của con người là một thực thể đồng tồn tại với con người, và con người không thể thiếu vắng nó được. Con người biết tôn trọng, biết hành xử công việc Lễ bái trong cộng đồng mà mình đang chung sống, đó chính là con người đã biết tu thân. Con người biết Thờ Phụng là con người biết “uống nước nhớ nguồn”, tức là biết gìn giữ nguồn gốc của mình. Chính vì vậy mà từ ngàn xưa nói chung trên toàn thế giới, nói riêng như ở Việt Nam mình, ta thấy từ mỗi gia hộ, mỗi làng xã, mỗi huyện tỉnh, đâu đâu ta cũng thấy các hình thái Thờ Phụng khác nhau, mỗi nơi mỗi cảnh. Tại gia thì có Từ Đường (nhỏ thì có Ban Thờ), Làng xã, huyện tỉnh thì có Miếu Đền, Chùa chiền, hang động, Nhà Thờ, tất cả đều là nơi Thờ Phụng.

Việc thực hiện Lễ Bái trải dài theo dòng lịch sử hình thành xã hội và đời sống của con người, vì lẽ đó một cách tự nhiên như cái tự nhiên của Tạo Hóa, nó nghiễm nhiên trở thành một thứ nhu cầu không thể thiếu được trong mọi lãnh vực sinh hoạt của con người. Nó có một mãnh lực tiềm ẩn huyền diệu vô hình trợ giúp con người vượt qua nhiều trở lực thiên nhiên mà sức người không thể thắng được. Nó trở thành một điểm tựa vô hình chắc chắc trong niềm tin, là vị cứu tinh của những con người gặp khốn khó cùng cực, kể cả ở những con người gặp nhiều may mắn giàu sang trong kiếp sống của họ. Tất cả những bí ẩn đó cho dù con người có văn minh đến mức nào đi nữa, chắc chắn một điều là không bao giờ tìm được lời giải đáp bằng những chứng minh thực dụng của khoa học.

Như ta đã từng thấy những câu thành ngữ như sau: “Mưu sự tại nhân thành sự tại Thiên”,

hay “Cầu được ước thấy”, “Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau, trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. (Trích Truyện Kiều của Thi Hào Nguyễn Du).

Tổng kết lại phần bàn thảo bên trên, ta thấy rõ là việc Thờ Phụng, Lễ Bái là một truyền thống lâu đời của các bậc Tiền Nhân đã đúc kết và để lại cho hậu thế. Nó mang tải một ý nghĩa thâm sâu huyền diệu rất đắc dụng cho đời sống của con người. Nó có tính giáo dục và rèn luyện xây dựng nên những lớp người toàn thiện hữu ích cho xã hội, cho cộng đồng. Nhận thức rõ điều lợi lạc này, chúng ta, thế hệ hiện nay và mai sau phải đem lòng biết ơn, cảm tạ mà hết sức chân qúy học hỏi thông hiểu cặn kẽ những Minh triết của Tiền Nhân để lại, hầu duy trì và phát triển đúng hướng trong nhận thức, trong tư duy mà hành xử đúng đắn trong những nghi lễ thường nhật. Có như vậy chúng ta mới tận hưởng được nhữnglợi ích kỳ thú vô song từ cõi cội, cõi nguồn ban trải cho chúng ta. Như những lời Minh huấn còn được lưu truyền đến ngày nay: “Gái hưởng Đức Cha, trai hưởng Phước Mẹ” hay “Nhờ âm Đức của Tổ Tiên để lại”, hoặc như “Đức năng thắng số” v.v…

            Mặt khác ta đừng nhìn thấy những hiện tượng xô bồ của một số người vì thiếu hiểu biết cặn kẽ về Lễ Tục của Tiền Nhân mà hành xử sai lệch, thiếu thiện tâm hoặc tha hóa lợi dụng phong tục tập quán để mê hoặc dân chúng mà thủ lợi. Rồi tỏ ý chê bai, để tự đánh mất niềm tôn kính, mất đức tín ngưỡng mà xa rời buông bỏ thì quả thật là một sự thất thiệt lớn lao cho chính mình.

Bây giờ xin vào phần câu hỏi:

            Giữa Lễ Bái và Tu hành có khác nhau không? Và sự khác nhau như thế nào?                  

  Giữa Lễ Bái và Tu hành (theo nghĩa là người tu Đạo bất kể theo một Tôn giáo nào) có sự khác biệt nhau, và khác biệt một cách rõ ràng. Tôi xin trình bày như sau:

Như phần bàn thảo về “Lễ Bái”, dẫu dù việc Lễ Bái có mang lại nhiều điều lợi lạc và có tính giáo dục, rèn luyện con người hướng thiện, tuy nhiên nó chỉ hạn chế trong cái luân lý của đời sống có tính “Đạo đức” làm người mà thôi. Còn người có đức Tu hành thì việc Lễ Bái ngoài cái Minh triết như trên đã nói đến, họ hiểu Lễ Bái theo một cái Minh Lý của Đạo. Mỗi hành động, cử chỉ thực hành trong việc hành lễ, trong mỗi cái lạy, cái bái của họ còn mang tải một Tâm Linh gắn bó, một thể hiện đức tin tín ngưỡng vào một thế giới cụ thể, một vĩ nhân cụ thể mà họ đang tôn kính thờ phụng.

Việc Lễ Bái của thiện nam tín nữ (nói theo đạo pháp là hàng phàm phu tục tử) tại những nơi thờ phụng chỉ biết đặt niềm tin tín ngưỡng của họ trên những sở cầu trông cậy (tức sự cầu xin) vào một Đấng thiêng liêng nào đó ban phát cho họ, cho dù họ biết việc làm của họ ở trong sự trông đợi thiếu thực tế và không có gì là chắc chắn cả, nhưng họ vẫn hành động không nề hà trách móc dẫu được hay không. Cũng nhờ vào niềm tin tín ngưỡng này mà họ biết “làm lành lánh dữ”, biết hướng thiện trong cái hỗn mang tranh đoạt dữ dội mà cuộc sống của họ đang trầm luân trong đó. Cái kết quả nếu có chỉ là sự thu lượm những may rủi, hên xui theo vận số mà thôi.     

Đấy chỉ là sự phân biệt cái khác nhau trên thực thể của hành động qua cái niềm tin tín ngưỡng.

Còn cái khác hẳn ở con người tu hành là ở chỗ họ hiểu và sử dụng Lễ Bái như là một phương tiện tu tập bồi đắp cái đức tu của họ, qua đó họ tu tiến trong con đường học đạo, hành đạo và tu đạo nhằm đạt tới cái mục tiêu giải thoát ra khỏi quy luật luân hồi của con người là: “Sinh-Lão-Bệnh-Tử”, là được vào cõi Niết Bàn hay lên Thiên Đường v.v… (theo cách gọi của từng Tôn giáo). Có nghĩa là mặc dầu họ có tin vào một Đấng thiêng liêng tối thượng nào đi nữa thì người tu hành hiểu rõ ràng là không ai có thể giúp họ, ngoài việc tự họ phải dấn thân tu cải và thăng tiến chứ không mơ hồ trông cậy vào sự cầu xin “ơn mưa móc” nào cả. Kết quả của sự tu hành này là sự thụ thắng viên mãn hoàn tất một kiếp số là: Vượt thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử, đoạn tuyệt với hồng trần và có thể có những người đạt được những đại nguyện tha độ chúng sinh đồng hoàn viên cõi cội.

 

Những chuyện bên lề về “Lễ”:

Để bổ xung cho phần viết về “Lễ”. Tôi xin sơ lược trình bày thứ tự các “lễ” dựa vào thời gian tính theo dòng lịch sử phát triển của loài người.

  • Thời man khai: Thời kỳ này loài người còn “ăn lông ở lỗ”, tức: Ở thì ở trong các hang động, ăn thì ăn sống nuốt tươi, giống như các loại thú ăn thịt ngày nay một khi bắt được con mồi. Loài người thời kỳ này chưa khám phá ra lửa để nấu nướng thức ăn. Nhưng con người đã biết sống thành từng bầy, từng đàn. Kiểu sống như vậy dĩ nhiên có người già, người trẻ và tự nhiên hình thành người đứng đầu đàn hay đầu bầy, nắm giữ quyền chỉ huy điều khiển cả bầy, đàn. Mỗi khi kiếm được con mồi lẽ tự nhiên cảm xúc vui mừng được bộc lộ, cả bầy, đàn xúm quanh con mồi mà nhảy múa một cách tự nhiên (dĩ nhiên là không có đờn sáo và vũ điệu như ngày nay) trước khi cùng nhau chia sẻ chiến lợi phẩm. Hành động này riết rồi trở lên một thông tục trong sinh hoạt đời sống của bầy, đàn. Ngày tháng qua đi theo dòng lịch sử phát triển của loài người một cách tự nhiên nó trở thành một Lễ Hội ăn mừng mà bây giờ người ta gọi là Lễ mừng chiến thắng, mừng thắng lợi, mừng được mùa, v.v… và ngày càng được cải biến tăng trưởng bày đặt thành nhiều hình thái Lễ Nghi lớn, nhỏ tùy theo sở thích, điều kiện kinh tế mà thực hiện như câu: “Phú qúy sinh lễ nghĩa” là vậy. Ngay trong thời kỳ man khai này con người cũng còn nhiều thứ Lễ khác nữa, nhất là khi con người tìm ra lửa và biết ứng dụng lửa phục vụ cho đời sống của mình, ứng phó với thiên nhiên, ứng phó với các động vật khác có thân hình to lớn, có sức khỏe, sức mạnh hơn con người. Những thành quả do Lửa mang lại và cái sức mạnh của lửa đã giúp con người chiến thắng nhiều thứ, nhiều mặt trong cách đối phó với thiên nhiên, với muôn thú (hầu như mọi muôn thú đều sợ lửa). Trong khi đó cái tiềm thức tư duy của con người còn ở mức thấp về sự hiểu biết về nguyên nhân, tác động của những kết quả mà con người thu nhận được, thành ra họ chỉ còn biết sùng bái cái diệu năng của Lửa đã mang lại và ảnh hưởng tốt đến đời sống của họ. Niềm sùng bái ngày càng tăng trưởng theo tư duy phát triển của con người, riết rồi cũng thành một thông lệ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và cho tới tận ngày nay. Con người tuy đã đủ trí thông minh vượt xa ra ngoài tầm kiểm tỏa của Địa cầu về những cái gọi là phát minh khoa học. Tuy nhiên về mặt tư duy hay về mặt hình thức biểu tượng vẫn còn nằm trong tầm ảnh hưởng của lòng sùng bái đối với Lửa, nhất là về mặt tôn giáo dưới bất kể một hình thái tôn giáo nào thì Lửa vẫn là những vị Thần đáng kính và đáng sợ. Chính vì vậy mà con người luôn luôn bị khuất phục trước sức mạnh tàn phá của Lửa. Đó là cái lý do tại sao chúng ta phải thờ Thần Lửa với những buổi Lễ vô cùng long trọng và tốn kém. Các bạn cứ nhìn vào các buổi lễ “Thế vận hội thế giới” với thông tục rước đón ngọn Đuốc Thần xứ Hy Lạp hẳn đủ mang lại cho qúy bạn những cảm nhận thiêng liêng muôn thuở về “Lửa”. Ta cũng có thể nói rằng nếu không có sự hiện diện của “Lửa” thì con người hẳn không có “Lễ hội” vậy!
  • Lễ gia Tiên (có nơi gọi là Lễ ông bà): Cũng chính vì có “Lửa” mà con người dần dần biết tích lũy thực phẩm (nhất là đối với thịt), Sự tích lũy ban khai chỉ có tính chất quần thể, sau dần dà do sự phát triển chênh lệch về trí, về lực mà tự nó hình thành cái thế người khôn kẻ dại, người mạnh kẻ yếu. Những yếu tố đó đưa đẩy con người nảy sinh ra ý niệm chiếm hữu ở cái thế lưỡng nghi tự nhiên tạo lưỡng cực. Người khôn đánh lừa kẻ dại, người mạnh bắt nạt người yếu và ngược lại kẻ dại sống bám vào người khôn, kẻ yếu sống nhờ vào người mạnh. Từ đó loài người biết tư hữu tài sản và tình cảm. Tính tham, sân, si thuận duyên gặp đất tốt mà đâm chồi nảy lộc tàn phá hủy hoại đức tính sống hợp quần bầy đàn của thuở ban khai. Đưa đẩy loài người chuyển hướng từ đời sống sinh hoạt quần thể (bầy đàn) thành sự sinh hoạt đời sống riêng tư của từng nhóm và sau đó mang tính huyết nhục trở thành từng nóc gia (tính gia đình), Trong đời sống gia đình thì ông bà cha mẹ là những lớp người dày dạn kinh nghiệm, có đủ uy quyền sai khiến lớp trẻ (con đàn cháu đống) trong mọi hình thức sinh hoạt thường nhật. Do vậy mà tạo lên một tập tục được lặp đi lặp lại từ đời này qua đời khác, những tích lũy suy đọng trong tình cảm, tâm hồn của con người mà hình thành niềm thương nhớ, tôn kính một khi những người đó qua đời và trở thành một tập tục “Giỗ Kỵ”, để kỷ niệm tưởng nhớ công sinh thành dưỡng dục như là một hình thức ghi nhớ công ơn vậy. Từ đó loài người hiển nhiên chấp nhận đơn vị gia cư (Cộng sản VN gọi là hộ khẩu) trong cộng đồng xã hội. Các buổi lễ lạc thuộc về đơn vị gia cư người ta gọi là “Giỗ Gia Tiên”, nhỏ từng nhà thì hình thức là một ban thờ có bài vị của những người đã khuất, nếu là một giòng họ (theo đơn vị gia trang, gia thôn, gia tộc) thì có Từ Đường hay Tổ Đình và ngày tháng cử “Lễ” thường lấy ngày mất (tử nhật) làm ngày Giỗ Lễ hàng năm và lưu truyền mãi mãi tới đời sau. Như hàng năm người Việt thường làm giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 8 tháng 3 âm lịch hàng năm) cũng mang tính chất này.
  • Quốc Lễ: Sự phát triển phân hóa của loài người không dừng lại ở đơn vị gia cư, mà trôi theo tính ích kỷ tham lam, nó tiến thêm những bước đi khổng lồ trên con đường cưỡng đoạt nhau qua những hành động cực kỳ hung ác, bằng những cuộc chiến tranh ở những tầm vóc rộng lớn, chém giết sát hại nhau, nhằm tranh đoạt, thu phục tiền tài vật chất và sức lao động của những kẻ đồng loại. Loài người đã sa đọa hơn loài thú ở điểm này là giết hại lẫn nhau, trong khi ở loài thú ta thường thấy các thành ngữ nhắn dạy rằng: “Hổ dữ không ăn thịt con” hay câu: “Chó không gặm xương chó”. Bởi lòng tham đi đôi với sức mạnh, nó cần có sức mạnh hỗ trợ giúp nó đạt được cái ham muốn vì thế nó biết một mình nó không thể làm được điều đó, nên nó đi tìm một thế liên minh cùng trong đồng loại, nhất là những đồng loại thân cận yếu hơn nó thì bị nó thu phục hoặc áp chế. Thế liên minh lâu dài này qua năm tháng phai nhạt dần những cái riêng biệt xưa kia (khi mới khởi đầu liện minh) và tự nó đồng hóa lẫn nhau thành một cái riêng chung của khối liên minh đó. Cũng từ đó hình thành một khối lớn người ta gọi nó là một dân tộc (một dân tộc bao gồm nhiều sắc tộc). Dân tộc đó hùng cứ một vùng đất đai khá rộng và cũng do cái tham nó thúc đẩy mà nó trưởng thành theo những cái gọi là chiến thắng qua sự chém giết cưỡng đoạt thu phục những đồng loại mang một sắc thái khác ở những vùng đất khác bằng cái sức mạnh của vũ lực (tức Lửa, bởi chiến tranh được gọi là hỏa kiếp) cho đến khi nó vấp phải một lực lượng khác tương đương thế lực, hai bên không nuốt được nhau (ở thế lưỡng Hổ tương kình), thì đành phải hòa hoãn mà phân lập biên giới (được gọi là cương thổ). Thế là thế quốc gia được hình thành và những buổi “Lễ” do những thành phần cai trị cầm nắm quyền lực này đứng ra tổ chức bằng nguồn lợi tài nguyên chung của dân tộc thì được gọi là “Quốc Lễ”. Giữa Quốc Lễ và Gia Lễ về mặt ý nghĩa cũng tương tựa như nhau, sự khá biệt chỉ ở mức về tầm vóc hình thức, vật phẩm, số người tham dự và quyền lợi mà thành phần cai trị ban phát cho công dân mà thôi.
  • Lễ hội tôn giáo: Sự phát triển của loài người càng lớn mạnh bao nhiêu thì những tai kiếp lại giáng xuống nhân loại cũng lớn bấy nhiêu. Theo lời lẽ của Tôn giáo thì những tai kiếp đó đều do sự mê muội, u minh phát xuất từ lòng tham sân si của con người mà tạo ra đến nỗi quá sức chịu đựng của con người. Sự cùng đinh cực khổ của kẻ yếu hèn, sự thiếu thỏa mãn quyền lực giàu sang của kẻ có sức mạnh, của kẻ chiến thắng, đã khiến họ cảm thấy không có chỗ nương tựa, họ cảm thấy trống hụt trong cái tâm vô minh của họ. Vì lẽ đó cả hai thái cực của đời sống con người đều lần mò đi tìm một quyền lực tối thượng để dựa dẫm và rồi hai ngả cuối cùng cũng gặp nhau ở một điểm, đó là sự hình thành của Tôn giáo. Tôn giáo nghiễm nhiên trở thành một điểm tựa chung về tinh thần cho cả hai giới cực (giàu – nghèo, sang-hèn) của xã hội được gọi là bất công. Từ đó tôn giáo đại diện cho một thế lực siêu nhân. Giới siêu nhân có một quyền năng vượt hơn mọi quyền năng vốn có của con người, một siêu quyền lực trong trí tưởng tượng của con người với một niềm tin cuồng tín hay một niềm tin mơ hồ đi nữa thì họ đều ít hay nhiều trong tâm họ vẫn mang một sự hãi sợ bị quyền lực đó phán xét nghiêm trị. Biểu hiện trong câu thành ngữ: “lưới trời tuy thưa mà không lọt” hay câu: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “Quả báo nhãn tiền”, v.v... Cũng từ những cái tự nhiên đó mà loài người khắp trên trái đất tự nó sản sinh ra muôn vàn Tôn giáo khác nhau, biểu tượng cho những siêu nhân khác nhau, để họ thờ phụng, lễ bái, tôn sùng, riết rồi cũng trở thành một thứ tín ngưỡng riêng biệt như một sở hữu có tính dân tộc, mang tính quốc gia (như quốc giáo, dân tộc giáo). Tất cả các tôn giáo đều được con người tôn trọng vì nó mang trọng trách giáo huấn con người hướng thiện, an lạc nên được gọi là Đạo (có tính hướng đạo cho lối sống của từng con người tìm một giải pháp thích ứng cho họ ra khỏi những khúc mắc trong đời sống mà họ đang gặp những trở ngại). Chính vì thế mà tùy từng tôn giáo có những nghi thức làm lễ riêng, nghi thức lễ lạc của tôn giáo có một tầm vóc lớn hơn bình diện của một quốc lễ (tính quốc gia) vì bởi thành phần tham gia (hội viên) có tính mở rộng và không phân biệt giai cấp, thành phần, xuất xứ, quốc gia. Nói một cách khác thì Tôn giáo không có biên thổ giới hạn gò bó. Lễ hội tôn giáo dần dần được củng cố và lớn mạnh vượt mực. Thế lực, quyền lực của tôn giáo ngự trị trên muôn loài, có khi còn ngự trị trên quyền lực của một quốc gia, của một dân tộc. Ta cứ nhìn vào lễ tang mới đây của một vị Giáo Hoàng. Giáo chủ Thiên chúa giáo ở Tòa thánh Vatican thuộc La Mã là đủ cho ta thấy niềm tin cùng sức mạnh của Tôn giáo lớn tới chừng nào và đáng kính nể ra sao!
  • Mê tín dị đoan: Tôi không biết nguồn phát xuất của cụm từ “Mê tín dị đoan” có từ bao giờ. Nhưng từ khi có sự hiểu biết thì đã nghe thấy trong sinh hoạt đời sống hàng ngày, người ta thường sử dụng cụm từ này để bài bác một số hình thức trong việc Lễ Bái, cúng giỗ của một số thành phần trong xã hội. Nhất là từ ngày Đảng Cộng sản do ông Hồ chí Minh thành lập và làm lãnh tụ, nắm được chính quyền ở miền Bắc VN, thì với chiêu bài “Bài Phong đả Thực” (bài phong kiến, đả thực dân) triệt để. Thì cụm từ này được khai thác cũng hết sức triệt để. Sự triệt để của nó đến mức khiến mọi người dân sống dưới ách cai trị của Đảng Bác, đều phải hãi sợ không dám thắp nén nhang cúng Tổ tiên, hay làm tang lễ khi gia đình có người từ giã cõi trần. Chùa chiền, nhà Thờ, Đình miếu, Từ Đường, bàn thờ trong tư gia bị dẹp bỏ, tịch thu dùng làm văn phòng, cơ sở sinh hoạt của chính quyền hoặc làm nhà kho v.v… các lễ hội bị cấm đoán dưới bất cứ hình thức nào. Ngoại trừ những lễ hội nhằm ca tụng công lao của Đảng Bác do chính nhà cầm quyền độc quyền tổ chức và hành xử mà thôi. Hồi đó cụm từ “Mê tín dị đoan” nhằm chỉ trích những việc về lễ bái của dân chúng và của các tôn giáo, hay nói một cách khác là nhằm đả kích vào những tập tục lễ bái, thờ phụng có từ lâu đời trong dân gian nhằm xóa bỏ những “Thuần Phong Mỹ tục” của dân tôc mà Tổ Tiên ta đã để lại cho con cháu từ bao đời. Thay vào đó Đảng Bác mưu đồ xây dựng một ý thức hệ mới: “Ý thức hệ cộng sản”, cộng sản hóa dân tộc Việt Nam để dễ bề cai trị và duy trì vị trí độc Đảng cầm quyền. Nói ra như vậy nhằm giúp ta thấy rõ những cái hiểu biết hết sức sai lạc về cụm từ “Mê tín dị đoan”. Và ngay cả những kẻ tự hào là “Đỉnh cao trí tuệ” kia cũng chẳng hiểu biết một chút gì về cụm từ mà chúng đem ra áp đặt bắt dân chúng phải nghe theo.

      Vậy thì thế nào là “Mê tín dị đoan”? Tôi xin cùng qúy bạn, ta thử rà xét cái nghĩa            căn bản của cụm từ này xem nó ra sao nhé! Trước hết xét về nghĩa của các từ:

-         Mê: “Mê” nghịch nghĩa với “Tỉnh”, không Tỉnh tức là Mê. Hay ta gọi là thiếu sáng suốt, những người hành động mà không hiểu rõ ý nghĩa cái hành động của mình.

-         Tín: “Tín” có nghĩa chỉ về Tín ngưỡng, Tôn giáo hay phong tục tập quán lâu đời trong dân gian, nó còn có nghĩa là niềm tin của con người vào một Đức tin nào đó. Tức là niềm tin tưởng sâu đậm trong tâm thức của con người

-         Dị: “Dị” có nghĩa là sự khác biệt, không giống như cái đã có sẵn từ trước.

-         Đoan: “Đoan” có nghĩa là sự đúng đắn của một hành động trong xã hội, là sự đoan chính, là tư cách đứng đắn của con người. Nhưng những tập tục cổ xưa thường thiếu tính thuyết phục về tính hiểu biết của con người ngày nay, hay nói một cách khác là những tập tục đôi khi vẫn còn mang tải cái thiếu văn minh, thiếu tính tự do, dân chủ, hoặc giả còn mang tính chất bắt buộc người theo phải chấp nhận vô điều kiện những cái đã được định sẵn chẳng hạn. Cho nên thời đại ngày nay thường có quan niệm sai lệch về những tập tục, coi đó là những “dị đoan”, “tệ đoan” trong đời sống của xã hội văn minh.

Tóm lại toàn cụm từ “Mê tín dị đoan” ta có thể hiểu cái nghĩa như sau: Những hành động của những người có tín ngưỡng, có tôn giáo, có tập tục dân tộc song họ hành xử thiếu minh mẫn, sáng suốt (tức hành xử trong sự mê) đã làm sai lệch hoặc làm hư hỏng cái Chân thiện mỹ (cái hay cái đẹp) của tín ngưỡng, của tôn giáo, của tập tục dân tộc. Như vậy khi người ta nói ai đó “mê tín dị đoan” là có ý chê trách cái hành động của kẻ đó đã làm không đúng theo cái chính nghĩa của tín ngưỡng, của tôn giáo hay của những tập tục đã thường răn dạy, chứ không có cái ý chê trách về niềm tin của họ. Tỷ dụ như trong Tôn giáo cũng thường có những hiện tượng mê tín mà người đời còn gán cho cái danh từ là “cuồng tín” tức cường độ còn cao hơn cả sự mê Tín. Bởi muốn đạt tới mức “cuồng” thì phải qua giai đoạn “mê” “si” trước. Vì vậy khi hành xử việc Lễ bái trong bất kỳ hình thức nào, ta nên hành xử trong cái “sáng” chứ không hành xử trong cái “mê” thì ta không phạm vào cái cơ sự “Mê tín dị đoan” phải không qúy bạn?

Tuy nhiên nói cho cùng thì những người vô minh mà thực hành lễ bái một cách “mê tín dị đoan” cũng còn tốt hơn những kẻ vô thần không hề biết đến lễ bái là gì. Tại sao tôi lại nói như vậy? Là bởi vì những người sống trong vô minh của sự lễ bái. Họ ít nhất còn biết “sợ” mà đã biết “sợ” thì họ phải lo tránh những cái “sợ” đó để khỏi xảy ra với họ. Cho nên mới có câu: “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành” là vậy, có nghĩa là ít hay nhiều ở con người của họ còn có lương tâm biết tự phán xét, chất vấn những hành động mà họ muốn làm và sớm hay muộn gì họ cũng có cơ duyên được khai trí để trở thành những người sáng suốt, minh mẫn . Còn những kẻ vô thần thì đám này đâu còn biết trên có trời, dưới có đất. Chúng hành động vô lương tâm chỉ miễn sao thỏa mãn, đáp ứng cái “thú tính” đang đòi hỏi nơi chúng mà thôi. Đám người này thật quả là mối đe dọa cho nhân loại vì chúng là hạng “mặt người mà dạ thú” hay là loại đã “bán linh hồn cho qủy sứ ma vương”. Những ai đã từng phải sống qua những giai đoạn lịch sử đen tối nhất trong cái chế độ cộng sản ở Trung Quốc, ở Việt Nam, hay ở Campuchia xứ Chùa Tháp hẳn hiểu rõ cái thực tế này. Loại người này khó mà có được cái cơ duyên để mà “cải tà quy chính” trong cái kiếp số hiện tại của nó.

Bài viết cũng khá dài, chỉ hy vọng nó mang tới cho qúy bạn một cái nhìn tổng thể về mối quan hệ cần thiết giữa việc “Lễ bái” với đời sống của con người. Qua đó ta có một cái nhìn, cái lối suy nghĩ đúng đắn về các nghi thức “Lễ bái” mà Tổ tiên của chúng ta đã lưu truyền lại, cũng như các hình thức Tôn giáo đang hiện hành hoạt động trong đời sống của muôn người, hầu giúp cho ta thăng tiến trên con đường làm người lương thiện, hữu ích cho gia đình và xã hội, cũng như cầu tiến trên con đường tu hành thành đạt viên mãn. Như các vị Tiền nhân thường dạy: “Phi lễ bất chính”. Trước khi ngừng bút xin tặng qúy bạn mấy câu thơ ngẫu hứng như sau:

                                          Lễ kia có học mới hay

                                          Lý thiêng thờ phụng tỏ bày tri ân

                                          Cúi đầu bái lạy Tổ Tiên

                                          Tu thân tích đức mới nên việc đời.

 Mong lắm thay! Cảm tạ lòng Từ bi của qúy bạn, và những mong các bạn hỷ xả cho những sai sót khó lường tránh khỏi.

 

                                                                              NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

                                                                              Nhân mùa Phật Đản phật lịch 2629

                                                                                          Tháng 5 năm 2005

                                                                                          Nguyên Khang

Email: nguyenk42@hotmail.com

Tel: 03 9449 1279 (sau 7pm mon.-fri.)

              03 8361 8953 (work from mon.-fri.)

 

 
LUẬN THẢO: BÁT-NHÃ TÂM KINH

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

 



Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử! Thị Chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành,thức;Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; Vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; Vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão-tử, diệc vô lão-tử tận; Vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố.

Bồ-Đề Tát-Đỏa y Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết-Bàn.
Tam thế Chư Phật, y Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa cố, đắc A-Nậu-đa-la Tam-muội Tam-Bồ-Đề. Cố tri Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, Chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-Nhã Ba-La Mật- Đa chú, tức thuyết chú viết: “Yết- Đế Yết-Đế, Ba-La Yết-Đế, Ba-La Tăng Yết-Đế, Bồ-Đề tát bà ha. (3 lần)

Trên đây là bài Bát-Nhã Tâm Kinh. Trước khi đi vào đề tài về luận giải Kinh Bát-Nhã, Tôi thiết nghĩ chúng ta nên sơ lược qua về một số vấn đề thực tế trong đời sống của con người, cũng như của vạn vật muôn loài, qua đó chúng ta cùng đồng thấy, đồng hiểu và đồng ý với nhau về một số vấn đề cụ thể trong những sinh hoạt chung mà chúng ta thường chiêm nghiệm qua bản thân, cùng những gì đã và đang xảy ra quanh chúng ta.
Đúng vậy! Con người một khi được sinh ra đời cũng như muôn loài và vạn vật, dẫu dù cùng một thời điểm giây phút, ngày tháng, hay khác biệt hẳn nhau về thời khắc, địa dư, hoàn cảnh thì chẳng ai giống ai cả, mỗi người hẳn đều như có sẵn một “hành trang” riêng biệt để cưu mang theo cho cái kiếp số của mình, mà các nhà chiêm tinh gia, các thầy tử vi tướng số thường gọi nó là “Định mệnh”. Cái định mệnh này nó được chuyển vận liên tục theo thời gian và chịu ảnh huởng của môi trường, hoàn cảnh mà cái kiếp số nó phải va chạm, chung đụng theo một quy trình chung bất biến là: Được đầu thai, trưởng thành, bệnh hoạn, già nua, và cuối cùng kết thúc kiếp số bằng một cái chết. Theo như các nhà Đạo giáo thì gọi nó là: “Sinh ký tử quy”, các Phật gia thì gọi là Vô thường, được chuyển vận theo một quy trình luân hồi “Sinh-lão-bệnh-tử”. Tất cả một quy trình đó người đời gọi nó là “Vận mệnh”.
Nói tóm lại một sinh thể sống ở cõi đời này đều chịu chung một quy luật là: Lãnh cái “Định mệnh” và mang tải nó mà Vận hành đời sống của nó trọn một kiếp sống, gọi là “Vận mệnh”.
Vậy thì cái gì là “Định mệnh” và cái gì là “Vận mệnh”? Bên cạnh hai thứ đó thì cái thân dục của cái sinh thể sống đó, bị chi phối và ảnh hưởng hỗ tương ra sao?
Qủa vậy! Biết bao nhiêu câu hỏi được người đời đặt ra, chất vấn từ ngàn xưa cho tới ngày nay, mà ta đã được đọc biết bao nhiêu câu trả lời của các bậc tiền nhân, hiền triết, học giả, nhưng ta vẫn chưa thực sự thỏa mãn cái trí tò mò của mình. Vì rằng chính ta cũng chưa giải thích thỏa mãn những biến cố, sự kiện xảy ra cho ta và cho cái nhận biết của ta, cho nên ta vẫn hoài thắc mắc.
Nếu các bạn tạm cùng cảm nhận và đồng ý với tôi rằng: “Đã đeo lấy nghiệp vào thân. Xin đừng trách lẫn trời gần trời xa” (Trích truyện Kiều của Nguyễn Du). Thì ai cũng có cái “định mệnh”và cái “vận mệnh”, và mỗi chúng ta chẳng ai giống ai cả từ thể sắc tới “tâm hồn”, thì chúng ta cùng nhau luận thảo v/đ này để cùng tìm hiểu cho ra cái chân tướng của nó ra sao nhé.
Cái được gọi là “Định mệnh” qủa tình nó không có hình tướng, chẳng một ai nhìn thấy nó bằng con mắt thịt của mình (nhãn dục). Vậy thì nó là cái thứ gì chứ? 
Môt sinh vật sống thì chắc chắn phải có một cái hình tướng của nó để được nhận diện, ta gọi nó là “thân nhục”, nhưng nếu cái thân nhục đó không chứa đựng một cái vô hình tướng mà người đời gọi nó là một tâm hồn hay một Linh hồn, như câu “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn” chẳng hạn, thì cái thân nhục đó chỉ được gọi là cái “xác chết” mà thôi. Và ngược lại nếu một linh hồn nào đó mà vất vưởng không có chỗ (thân nhục) để mà nương tựa thì người đời gọi nó là: “Hồn ma bóng quế” là vậy. Nói như thế có nghĩa là, một sinh thể hay một cơ thể người được gọi là một sinh thể sống hay con người sống thì nó phải có hai thành phần cấu hợp tạo thành đó là Nhục thể hàm chứa một Linh hồn hay tâm hồn trong nó. Từ những hiểu biết trên ta nhận ra rằng trong mỗi chúng ta hay bất cứ một sinh, thực vật sống nào, đều có hai thể kết hợp tức phần “Hồn” và phần “Xác”. Vậy thì “Định mệnh” thuộc về phần nào? Để trả lời câu hỏi này, tôi xin dẫn chứng câu thành ngữ từ lâu đời mà người đời thường sử dụng, đó là “Cha mẹ sinh con Trời sinh Tính” hoặc câu: “Trời sinh Đất dưỡng”. Đã nói là “cha mẹ sinh con” tức cha mẹ chỉ làm phần việc cấu trúc lên phần thân xác (nhục thể). Còn nói “Trời sinh Tính” có nghĩa là phần Linh Tính (Linh hồn) không do cha mẹ tái tạo thành mà là nó đã sẵn vậy rồi. Cũng chính vì thế cho nên dẫu dù cùng cha cùng mẹ, mà anh em với số đông bao nhiêu hoặc giả là anh em sinh đôi, sinh ba hay sinh năm, sinh bảy, thì chẳng đứa nào giống đứa nào cả, mỗi đứa một diện mạo, mỗi đứa một tính tình. Cũng vì cái thực tế này, có từ cái thuở Sinh Nhân của Tạo Hóa mà cha ông ta đã rút tỉa được, rồi truyền đạt thành câu thành ngữ trên.
Như vậy phần Linh hồn là phần đã được định sẵn và nó không có hình có tướng, nhưng nó lại hiện diện trong ta và sống nhờ vào cái thể xác ta. Chính vì lẽ đó nên Linh hồn ta (Theo Phật Pháp chỉ ra nó: chính là Tự Tánh hay Chân ngã) nó chính là cái “Định mệnh” mà ta phải chất chứa trong cái kho thể xác của mình. Nói rõ hơn nữa thì nó là “khối định nghiệp” cái hành trang mà ta phải mang theo khi tới đầu thai để lãnh chịu một kiếp số. Nó chính là sự phán xét, mà Linh hồn ta phải lãnh nhận trong quy luật “luân hồi” từ những vòng quay của muôn kiếp trước. 
Còn “Vận mệnh” thì sao? Như trên tôi đã nói tới. “Vận mệnh” là một quá trình vận hành từ Sinh tới Tử theo một quy trình: “Sinh-Lão-Bệnh-Tử”, đó là cả một bể khổ trần gian mà Đạo Phật gọi nó là cõi Ta Bà trầm luân. Cái quá trình vận hành đó là cả một cuộc trôi dạt của một kiếp số, với con người thì gọi là một kiếp người. Cái phần mà cha mẹ sinh ra ta, tức cái phần thể xác của ta phải gánh chịu, phải vận hành, phải trải qua theo cái “nghiệp trả nghiệp” (Phật Pháp gọi là ân oán). Sự vận hành được khởi động bởi những duyên cơ, ứng thời, ứng vận mà nghiệp nó tới hầu trao đổi cơ sự của cái gọi là “Trả-vay”. Trang trải cái “Định nghiệp” rõ ràng là do cái hiện tình được thể hiện qua hình hài của thân xác ta qua từng thời gian, không gian mà hiện chứng là sự thành đạt hay thất bại của cuộc đời mà ta được tận hưởng hay phải gánh chịu, Phật pháp gọi là “Nghiệp quả”. “Vận hành” của nghiệp được gọi là trang trải hay chất chồng thêm đều tùy thuộc vào những yếu tố: Tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố. Theo như Phật giáo thì gọi là: “Xả nghiệp” hay “Tác nghiệp” hoàn toàn do “Thân, Khẩu, Ý” mà gây ra. Nghiệp: Đó là công danh, sự nghiệp, giàu sang, nghèo hèn, xấu đẹp, hạnh phúc, khổ đau, là hợp là tan, là thành là hoại, là sinh là tử, là bệnh hoạn, là đớn đau, là tàn tật, v.v.. Sự quyết định hoàn mãn cái nghiệp trả vay ở kiếp số mình, không gì khác hơn là phải tìm về và hiểu cặn kẽ minh triết cái “Vốn nghiệp của định nghiệp” mà mình phải cưu mang. Nợ “Ân oán của ai thì trả đủ, trả đúng người đó” Không trả hơn và cũng không trả kém, có như vậy mới được gọi là sự sòng phẳng và làm được điều đó tức là ta đã hóa cải được nghiệp để trong ta chẳng còn gì cho ta, có nghĩa theo từ ngữ của phàm tục gọi là trắng tay. Trắng nghiệp có nghĩa là ta chẳng còn một tí ti vốn liếng nghiệp gì nữa thì ta đâu còn “Định nghiệp” ở những kiếp sau. Không có “Định nghiệp” thì không còn “Định mệnh”. Nói theo nhà Phật là một khi đã đắc được chữ “Vô” thì thoát ra khỏi vòng luân hồi tức đắc quả “Siêu sinh liễu tử” rồi.
Trở lại bài Bát Nhã Tâm kinh, mà tôi muốn cùng các bạn luận thảo. Đã được các ngài Phật gia đặt cho cái tên “Bát Nhã Tâm Kinh” chắc phải có lý do hay có cái nguyên căn, minh ý uyên thâm mới đặt tên như vậy, chứ không phải là chuyện tầm phào, hẳn các bạn đồng thuận với tôi như thế chứ! 
Trước hết ta bàn tới chữ “Tâm kinh”: Theo cách thường tình thì “Tâm Kinh”đây có hai nghĩa:
* Nghĩa thứ nhất: Có người cho là bài Kinh này là trung tâm điểm của vạn kinh trong kinh của Phật để lại. Nó hàm chứ tất cả vạn kinh trong nó. 
* Nghĩa thứ hai: “Tâm kinh” là lấy tâm mà hiểu kinh này, chứ đừng lấy kiến thức phàm tục mà hiểu.
Riêng tôi thì hai nghĩa trên tuy không phải là sai lệch nhưng cũng không hẳn là chuẩn đúng, có thể nói tuy đúng mà không hẳn đúng, không sai lệch mà mang tải cái lệch sai. Tôi chỉ xin trình bày cái suy nghĩ của tôi về bản Kinh này để qúy bạn suy ngẫm chứ không dám có ý phê phán hai cái nghĩa trên.
Trước hết bản Bát Nhã Tâm Kinh trên là bản kinh đã được rút ngắn nhất, chỉ còn lại 260 chữ (có bản 262 chữ) để chúng sinh và hàng phật tử trì tụng sau các thời kinh nhật tụng. Tính từ ngày trở thành bản kinh nhật tụng cho đến hiện nay, phải tính từ thời Lục Tổ Huệ Năng cho đem thực hiện với dòng lịch sử hàng ngàn năm, như vậy qủa là một giai đoạn lịch sử Phật giáo khá dài đem so với một kiếp người. Chúng ta cứ tụng niệm, hoặc giả cứ học thuộc lòng với sự chuyển dịch (phiên bản tiếng Hoa) từ bản nguyên gốc là tiếng Phạn (tiếng Ấn Độ), rồi lại qua bản chuyển dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Hán Việt, và còn có cả bản tân thời nhất là phiên bản tiếng quốc ngữ hiện nay nữa thì cái ý Đạo được chuyển đạt tới người muốn tu hành nó đã biến dạng, có khi biến cả nghĩa minh triết mà bản kinh nguyên thủy từ Phật muốn truyền đạt giáo hóa cho hàng phật tử đại chúng. Sự sai lệch này là điều tất yếu phải có, mỗi khi có một sự chuyển tải sang đổi, nhất là một khi nó còn bị tóm lược thu gọn lại, vì vậy khi ta nghiên ngẫm bản kinh này ta phải hết sức cẩn thận, phải cảnh giác với mọi ngờ vực, phải rời bỏ mọi định kiến hiểu biết từ bên ngoài, phải rời bỏ ngay từ đầu trong ta những mầm hiểu lơ mơ đừng để cho nó khởi chồi nẩy lộc. Tại sao vậy? Thưa các bạn! Làm được như vậy tức là ta phải bắt đầu làm cái công việc khai hoang ngay ở trong “Tâm Điền” của mình (xin đọc bài luận giải về Tâm) như một nhà nông khởi sự việc khai khẩn vùng đất hoang trước khi tính tới việc gieo trồng. Mảnh “Tâm Điền” của mình phải làm thật sạch cỏ dại hoang dã mọc phủ dày kín đất canh tác gieo trồng. Để khi ta gieo xuống những hạt giống tu hành thì mới có nhiều cơ duyên thành đạt đó là lẽ hết sức tự nhiên của Lý Đạo. Chính vì cái Lý Đạo đó mà khởi đầu bản kinh Bát Nhã đã chỉ điểm cho ta cái phương cách khai hoang ấy. Đó là câu: “Quán tự tại Bồ Tát”. “Tự tại Bồ-Tát” là mảnh “Tâm Điền” ta phải khai phá, muốn khai phá nó trước hết ta phải tìm ra nó cái đã, xem nó ở đâu trong ta, “hình hài, diện tích” nó ra sao? muốn tìm nó ta phải “Quán” tức là nhìn, là chiếu, là nhận ra chân diện của mảnh “Tâm Điền” đó nơi ta. Một khi trong quá trình quán chiếu đó, ứng thời, ứng vận, hội đủ cơ duyên vận hành ta sẽ thấy được “Tâm Điền” tức là ta khai mở được “Huệ thức”, cánh cửa Huệ thức đã hé mở vì chỉ có Huệ thức mới có con mắt Huệ (Huệ nhãn) để nhìn thấy được “Tâm Điền”. Chính vì thế mà Pháp của Phật gọi “cái thấy” đó là “Quán”. Sau bước thu hoạch thứ nhất đó thì Lý Đạo hướng dẫn ta chuyển sang bước thực hành thứ hai là “Hành thâm Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa”. Đúng vậy! “Hành thâm” tức là tiếp tục khai triển công việc “Quán” cho thật sâu, thật rộng vì rằng một khi ta bước chân vào mảnh “Tâm Điền” ta phải tìm tòi khai phá nó, để biết khả tất dung lượng, năng lực của nó là bao? Cánh cửa Huệ thức mới hé mở, thì ta cố thêm sức bật tung nó ra cho hết cỡ của nó, khiến tầm Huệ nhãn của ta được thoáng rộng bao la thêm. Đó tức là “Bát-Nhã Ba-La mật-Đa” ta cần đạt tới cái tột đỉnh màu nhiệm hào quang của nó. Khi đó chính là lúc ta nhận chân ra cái “Tự Tánh” hay “Diện mục bản lai” của mình, nói một cách thẳng thắn ra là ta nhận thức và nhận rõ cái “Định Nghiệp” hay cái “Định Mệnh” của mình hết sức rõ nét. Rồi sao nữa? Ta đã thực sự bắt tay vào khai thác “Tâm Điền” của mình với những khám phá kỳ lạ, hấp dẫn lôi cuốn ta hành động và ta tiếp tục hành động của một con người thật của mình (Chân ngã) một “Chân hành giả” đi trên con đường của Lý Đạo. Không còn sợ lạc lối nhầm đường nữa, Ta cứ theo Lý Đạo mà hành tu. Đó là “Thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” Thật là tuyệt diệu một khi trước Huệ nhãn của ta, cái đám Ngũ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) của một kiếp số tự hiện thân rõ mồn một, cúi đầu khiếp nhược khuất phục trước Huệ lực của ta. Ta chế ngự, chinh phục được Ngũ uẩn của giả thân, giả nghiệp trong cái vận số của vận mệnh. Bởi Huệ lực đã hóa giải nghiệp lực (Ngũ uẩn) thành giai không. Đạt được điều đó là ta thoát được khổ ách của kiếp mệnh. 

Tóm lại: Đoạn đầu của bài Kinh Bát-Nhã từ “Quán tự tại ….tới độ nhất thiết khổ ách”. Là sự chỉ điểm khai mở của Phật (Lý Đạo) đối với hàng phật tử có đủ căn duyên phát nguyện bước vào tu Đạo. Sự khai mở này ví như việc Phật truyền cho người Phật tử một ngọn Thiền Đăng thắp sáng cái Tâm thất của hàng phật tử đã bị u ám trong muôn kiếp luân hồi trầm luân. Như câu Kinh: “Nhất Đăng năng phá vạn niên ám”, “Nhất chỉ năng phá vạn niên ngu”. Cái Năng hóa của Bát-Nhã Tâm kinh là ở chỗ này.
Tiếp theo sang đoạn hai và đoạn ba của bản kinh: “Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị….diệc phục như thị” và “Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng…..dĩ vô sở đắc cố”. “Lý Đạo” dọi sáng thêm cái chân diện vô hình tướng (diệu sắc) của “Ngũ uẩn Nghiệp”, của “Tự Tánh thân”, trong cái “Định nghiệp” mà chân ngã (Tự Tánh) phải cưu mang. (Ở đoạn này tôi không muốn đi sâu vào phần luận giải về pháp). 
Đoạn bốn từ: “Bồ-Đề Tát-Đỏa y Bát-Nhã…..tới chân thiệt bất hư”. Lý Đạo dẫn chứng các Vị Bồ -Tát, các Vị Phật muốn tu hành đắc qủa cũng phải theo Bát-Nhã Tâm Kinh mà tu hành, tức các Ngài cũng phải làm công việc “Quán chiếu” khai hoang cái “Tâm Điền” của các Ngài, đồng thời phải gieo hạt “Hạnh Tu” trên mảnh “Tâm Điền” thì mới có thu hoạch “Giác Ngộ” mà giải thoát khỏi luân hồi.
Lý Đạo kết thúc bằng một câu chú: “Yết-Đế yết-đế, Ba-La yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha”. (3lần). Một câu chú! Các bạn nghĩ sao về một câu chú? Đây là một câu Thần chú hay Phật chú chăng? Đọc chú sau khi tụng niệm hay chú ngộ sau giấc giác mê tỉnh thức của chính ta? Rất mong qúy bạn tự tìm cho mình câu giải đáp bằng chính mình bước vào Tu Đạo, đạt tấn tiến trong Lý Đạo tu hành.
Để kết thúc bài viết này. Tôi xin tặng các bạn mấy câu thơ cảm tác như sau:
“Ta thiền thấu kiến chính thân ta Sắc sắc, không không, 
“Xác” là nhà Trăm năm tạm trú “Hồn” lưu thế 
Một kiếp phong trần phá chấp qua. Ta thiền thanh lọc chính Tâm ta 
Nương Pháp Như-Lai hóa giải tà
Bát chánh niệm tu tiêu khổ đế
Khai thông Bát-Nhã Huệ thăng hoa”.

Xin cảm tạ lòng Từ-Bi của qúy bạn.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Nhân mùa Phật Đản 2629
08/04/Ất Dậu
Nguyên Khang 



 

ĐẠO PHẬT VÀ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

 

ĐẠO Ý:

Trước khi vào phần luận thảo, tôi xin giãi bày cùng qúy bạn một vài suy nghĩ của tôi về Đạo Phật. Trong đời sống hiện tại của thế nhân hai chữ Đạo Phật đã bị đồng hóa (theo cái hiểu chung) là một thứ tôn giáo riêng biệt đứng ngang hàng hay tương xứng với môt thứ tôn giáo khác mà thời trước ở Việt Nam hay ở Trung Hoa gọi là Ngũ giáo (Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo), nhưng đến hiện nay thì không còn là ngũ giáo nữa mà là vạn giáo có dư rồi. Riêng tôi, khi chưa thực sự bước vào Phật Đường để học Đạo Lý nhà Phật thì sự hiểu biết của tôi cũng không thoát ra khỏi cái ý niệm chung đó, bây giờ sau khi thực sự tham thấu trong quá trình học Đạo Phật và tham thiền tu Đạo một thời gian đủ để nhận thức ra rằng cái giáo lý (tạm gọi là như vậy) mà Phật để lại cho dân sinh nó không phải là một thứ tôn giáo như ta vẫn tưởng mà thực sự Giáo lý nhà Phật nó vượt hẳn ra ngoài cái tư tưởng hay cái sự suy tưởng của con người đã áp đặt lên Đạo Lý nhà Phật từ trước đến nay. Một số nhà khoa bảng trí thức còn gọi giáo lý nhà Phật là Triết lý hay giáo lý nhà Phật là khoa học DUY TÂM, môn phật học hay các tôn giáo học khác thì được áp đặt cho cái tên là môn hay khoa thần học v.v…hiện có mặt trong các đại học đường ở những quốc gia nào đã chấp nhận sự hiện hữu của tôn giáo trong xã hội của quốc gia đó.

Có thể nói đó là một sự hiểu lầm lớn đối với giáo lý nhà Phật và là một sự hạ thấp giáo lý nhà Phật xuống hàng giáo lý thế gian trong cái cảnh giới vô thường mà Phật đã nhìn ra cách đây vài chục ngàn năm về trước, điều đó là một tai hại cho những người tu hành muốn tìm cho mình con đường giải thoát!

Theo thiển ý của tôi thì những người đã quy y Đạo Phật nên dứt khoát trong ý niệm của mình là Đạo Phật không phải là một thứ tôn giáo, không phải là một thứ triết lý hay một môn khoa học nào, mà ta có thể áp đặt lên giáo lý nhà Phật. Trong ta Đạo Phật là một cứu cánh giúp ta thường đạt trong con đường giải thoát vĩnh hằng, giúp cái Ngã của mình vượt ra khỏi vòng sinh tử luân hồi của nghiệp. Đạo Phật trong ta là Đạo chứ không phải là thứ tôn giáo thường có ở đời vì rằng tôn giáo, triết lý, khoa học cũng chỉ là một thứ vô thường, chính nó, nó có sự suy-thịnh, thành-hoại, hưng-mạt như muôn vàn cái hiện hữu ở trên đời này mà thôi. Cho nên Đạo Phật phải ở ngoài cái sự vô thường đó.

Trong Đạo Đức Kinh có viết:   

Đạo khả Đạo phi thường Đạo,

                                                            Danh khả danh phi thường danh”

Hiểu nôm na là: Đạo nếu nói được thì không phải là Đạo, nếu gọi được cũng không phải là tên đúng của nó. Hay nói một cách văn nho là: Đạo đại vô danh, cưỡng danh viết Đạo.

Vì thế Đạo Phật là con đường vĩnh hằng đưa ta tới giải thoát, Đạo Phật không chịu sự thành hoại, không có sự hưng mạt, thịnh suy. Nói như vậy mà không sợ quá lời, vì rằng nếu ta tạm tính từ thời Thích Ca Mâu Ni Phật đến nay thì Đạo Lý của Phật vẫn tồn tại với thế gian trên 2600 năm rồi và chắc chắc một điều là dẫu dù Tạo hóa này có tới ngày tận thế thì Đạo lý này vẫn là vĩnh hằng. Pháp thế gian có thể thịnh suy như hiện thời thế nhân thường sử dụng cụm từ: “thời mạt pháp”, tôn giáo có thể lúc cực thịnh, khi suy thoái với cụm từ: “thời mạt thế”, như độ dài lịch sử đã chứng minh mà ta đã nhìn thấy.

Nhưng Chân lý giải thoát vẫn không mai một và chẳng bao giờ có sự thay đổi.    

 

Ta đã nguyện (Quy y) theo Đạo Phật là ta theo cái Chân Thường chứ không phải là theo cái vô thường, ta theo cái vĩnh hằng chứ không theo cái tạm có, cho nên Đạo là cái gì đó của ta thuộc về riêng ta, do ta vì ta, tại nơi ta mà hình thành, có cái Ngã vĩnh hằng của ta thì ta thuộc về cái vĩnh hằng đó, nếu ta quên con đường đó, tự nhiên ta sẽ lạc lối lầm đường “Thất bản cầu mạt” mà đi vào con đường do Nghiệp dã dẫn dắt ta vào (ma dẫn lối qủy đưa đường) theo thói nhân sinh thường nhật suy niệm.

Tức là ta lọt vô luân hồi đạo.

Đạo là: “Thiên mệnh chi vị Tánh, xuất tánh chi vị Đạo” (trích sách Trung Dung). 

Cái Tánh này chính là: “Thị Chư Pháp không tướng bất sinh bất diệt…” mà trong Tâm Kinh Bát Nhã thường dạy. Tìm Đạo là: Tìm "Phật tại tâm" hay tìm "Phật tánh tự có" hoặc quay về nơi "Nhân chi sơ tánh bổn thiện", làm được, thấy được điều đó là ta tìm được con đường giải thoát cho ta. Đó là con đường tự độ mình. Sau đó nếu thấy có đủ Đức năng thì ta gánh vác thêm công việc Tha độ chúng sinh, giúp cho chúng sinh (sự khai mở) để họ tự tìm thấy con đường giải thoát của họ tùy theo cái duyên nghiệp trong vận mệnh mà họ đã nhận cái quả nghiệp hiện tiền này.

Từ cái hiện nghiệp mà trả nghiệp, từ cái hiện nghiệp mà đoạn nghiệp quyết không tác nghiệp hoặc không gieo nghiệp tiếp theo nữa. Không gieo trồng thì không thu hoạch, nói cách khác tức là không nhân thì không qủa, không sinh thì không tử (xin đọc bài luận thảo về Sen với Phật). Được như vậy là ta đã ra khỏi vòng sinh tử luân hồi.(xin đọc bài luận thảo về Duyên và Nghiệp)

Qủa đúng như sự chỉ dạy của các vị Tiền nhân : …

” Nhân liễu thử Tâm, nhân tự độ

                        Linh sơn chỉ tại nhữ Tâm đầu..”

            (trích trong “Lương Minh Chiếu Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài” của Đại văn Hào Nguyễn Du)

                        tạm dịch:           Linh Sơn ngự tại Tâm Ta

                                                Ngộ ra Tâm ấy là Ta độ Mình.

Hoặc hiểu theo cách bình dân mà trong tục ngữ dân gian Việt thường nhắc nhở ta:

                        “Ta về Ta tắm ao Ta,

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”

Đây là câu ca dao bình dân có từ thuở xa xưa, nhưng người đời đã hiểu một cách sai lạc mà biến hiểu nó theo một cái ý “đen” có tính tục tĩu trong mối quan hệ của giới mày râu đối với người khác phái.

Nhưng thực ra, trong cái hoàn cảnh dân tộc Việt luôn luôn bị phương Bắc cai tri hoặc dòm ngó xâm lăng, cùng với sự khai trí của dân gian thấp kém (trên 90% dân số là mù chữ) thì việc truyền bá tư tưởng, đạo pháp bằng truyền khẩu qua ca dao tục ngữ là điều hiển nhiên là cấp bách và ứng thời. Đó là một phương tiện hữu hiệu nhằm duy trì nền văn hóa Việt, Đạo Việt, chống lại những thủ đoạn đồng hóa dân tộc từ triều đình phương bắc.

Vì vậy ở câu tục ngữ này, ta phải hiểu theo cái minh triết Đạo Việt mà Tiền nhân muốn nhắn gửi qua bài ca dao mà dân gian truyền tụng. Chính vậy, cái hành động “tắm” nó ám thị cái hành thức tẩy rửa hay gột rửa mà sự gột rửa ấy phải dùng nước (Thủy) mà rửa nên gọi là “tắm ao”(Ao mà xuống tắm được thì phải có nước), mà “Thủy” chính là cái định nghiêp gắn liền với định mệnh của con người. Trong Tứ đại thể tạo ra vạn vật với tính vô thường của nó, như trong kinh Kim cang có dạy đó là: “Đất, Nước, Gió, Lửa” hay “ Thổ, Thủy, Phong, Hỏa” mà “Thủy” đây chính là cái định Nghiệp của con người. Trong đời sống thường nhật, chính Ta đã bị tiêm nhiễm bởi tính Tham, sân, si, ái, dục…đã tác tạo biết bao nhiêu nghiệp chướng trong đời mình, nên ta phải tự mình tu hành mà tu sửa, gột rửa những cái mà ta bị ô nhiễm. Đó chính là hành động mà trong câu ca dao muôn nói tới là “Ta tắm ao ta”, nhưng không phải là “tắm ao” người khác mà phải “Ta về” cái “ao” trong Ta kia, Hành động quay “về” là sự “Quán Chiếu” hay “Chiếu Kiến Ngũ uẩn” hay còn gọi là “Hồi quang phản chiếu”. Ao đó “dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” là bởi vì nó là cái Chân thực không giả dối, không lường gạt mình, chính vì thế, dẫu nước có “đục” (thân nghiệp nặng) thì vẫn có tác dụng rửa sạch được những cái dơ mà ta nhiễm phải từ bên ngoài (thói hư tật xấu ở đời). Huống hồ nước ao trong ta mà là thứ nước trong (chắc chắn là vậy, do bởi “Nhân chi sơ tánh bổn Thiện”) thì hẳn phải tốt hơn biết chừng nào.

Nói tóm lại câu ca dao: “Ta về ta tắm ao ta” đó chính là cái Pháp “Quán tự tại Bồ Tát” vậy. và câu “Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” cũng chính là cái Pháp “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”, Trình bày tới đây chắc hẳn các bạn cũng đồng quan điểm đó với tôi chứ. Phải không qúy bạn?

 Trong dân gian còn một câu tục ngữ khác là:

 “ Mình với Ta tuy hai mà một.

Ta với Mình tuy một mà hai”.

Đúng vậy, “Mình” với “Ta” trong câu tục ngữ chỉ cho ta thấy trong ta có hai thể Ngã hợp lại mà thành ta, đó là cái Chân Ngãvà cái Giả Ngã. “Mình” đây là cái xác thân ta (giả Ngã), “Ta” đây là cái chính Ta tức cái Linh Tính hay cái Chân Ngã. Hai cái Thể Ngã này không thể thiếu nhau được vì nếu tách rời nhau ra thì cái ta không còn là sinh thể sống nữa. Chính vì vậy mà sinh ra cái Pháp “ Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc…” và “ Thị Chư Pháp Không tướng …” cũng chính là cái “Ta” Chân Ngã chứ không phải cái “Mình” giả Ngã.

Qua những lời của các bậc Tiền Nhân để lại, khiến ta phải suy ngẫm tìm cho ra cái Minh Triết Chân Lý mà các Vị đã gửi gắm qua những Kinh Điển, văn ngôn hay thơ phú hoặc qua những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ còn lưu truyền tới ngày nay.

Cụ Nguyễn Du trong suốt cuộc đời Tu Đạo học đạo cũng Ngộ ra rằng:

                        “ ..Minh kính diệc phi đài

                        Bồ Đề bản vô thụ

                        Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

                        Kỳ trung ảo chi đa bất minh

                        Cập đáo Phân Kinh Thạch đài hạ

                        Chung tri: Vô tự thị Chân kinh.”

(Trích thơ “ Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh thạch Đài” của Đại thi Hào Nguyễn Du)

Tạm dịch:        

                        Gương sáng chẳng cậy Đài

                        Bồ Đề vô thân cội

                        Kim cương! Kinh tụng ngàn lần

                        Uyên thâm mờ ảo như gần như xa

                        Thạch Đài tri ngộ riêng ta

                        Chung quy: Vô tự mới là Chân Kinh.

Quả đúng vậy, “Vô tự mới là Chân Kinh” hiểu nôm la là: “lời trong câu mà ý ngoài chữ”, hay trong kinh pháp Phật thường nhắc nhở chúng sinh là: “Y Pháp bất y nhân. Y Lý bất y ngữ” là vậy. Mọi cái hữu tự ở trần thế này chỉ là cái tạm mượn nhằm diễn đạt cái  của Đạo, để hướng dẫn thế nhân từng bước một tiếp cận với Đạo lý của Thượng Thiên. Nhưng cái hữu tự, tự nó lại là cái vô thường của thế gian nên nó không thể, thể hiện đúng đắn cái Chân lý của Đạo lý được. Do vậy nó chỉ mang tải được cái pháp thế gian mà thôi. Vì thế nên Phật luôn luôn nhắc nhở chúng sinh rằng: Muốn hiểu Pháp của Phật thì phải “mượn giả tu chân” tức là qua cái kinh hữu tự (pháp hữu vi) mà tìm ra cái vô tự (Pháp vô vi), cái vô tự mới là cái Chân lý mà Phật muốn truyền giáo cho chúng sinh nào có chân tâm đi tìm và cầu Đạo giải thoát. Cái Tri thức của người muốn tìm và cầu Đạo giải thoát là cái tri thức tu hành sao cho tìm và giải cho được những ám thị xuyên qua những kinh hữu tự của thế gian. Giải mã đúng thì tìm được con đường tu tiến đúng (chân tu), nếu giải mã sai thì hiển nhiên sẽ bị lầm đường lạc lối và đường tu chắc chắn là hỏng, dĩ nhiên kết qủa không gặt hái được gì, nhiều khi còn nhận lãnh thêm những nghiệp chướng chẳng tốt đẹp gì cho kiếp sau (gieo nghiệp, ký nghiệp..).

Tóm lại: Một con người muốn tìm tới Đạo giải thoát, một khi đã gặp được cái duyên khởi (dẫn bảo Sư) thì phải biết phát tâm nguyện (Chân Tâm) cộng với hấp lực của niềm tin mà đi tìm cho được Đạo, khi tìm được Đạo phải phát Tâm Nguyện mà cầu Đạo (chịu sự chỉ điểm của Minh Sư), cầu được Đạo rồi thì phải tu Đạo (lý-giải Đạo) và hành Đạo (sự-giải nghiệp), trong sự tân tiến của Hạnh tu và Hạnh hành ta sẽ thu đạt được kết quả của Chứng Đạo (đắc Đạo). Như vậy ta có biểu đồ như sau:           

                       

DUYÊN KHỞI

TÌM ĐẠO   -    CẦU ĐẠO   -    TU VÀ HÀNH ĐẠO   -   CHỨNG ĐẠO

           

            Đó là con đường duy nhất mà ta phải tới cho được, con đường của chính ta khai phá, nó hoàn toàn độc lập với mọi con đường của các chúng sinh khác tuy nhiên chỉ có chung một điểm là chốn về hội tụ gặp nhau mà thôi. Nơi đó trong pháp thế gian thường gọi là Niết Bàn (cách gọi của Phật giáo) hay Thiên Đàng (cách gọi của Thiên chúa giáo) v.v…Nơi chúng ta về (Tây phương cực lạc) cũng chính là nơi mà chúng ta Đi xuống (điểm xuất phát) để tới thế gian này (Đông thổ).

Nói một cách Logic là có Đi thì mới có Về. Ở đời có cái kỳ lạ là từ Đông sang Tây chẳng ai bảo ai mà sao loài người tự nhiên đồng hợp một quan niệm rằng: Khi họ tiễn đưa một người thân nào đó mà từ giã cõi đời này thì đều dùng cái động từ “Về” để kính tiễn hương Linh (Chân tánh) người quá cố sớm được về nơi Niết Bàn hay nơi Thiên đường v.v.. tùy theo danh từ mà tự cái tôn giáo của họ áp đặt cho cái tên để chỉ nơi chốn tận trên thượng Thiên là nơi mà Hương Linh người quá cố cần phải “Về” tới, như ta thường đọc thấy trên những trang báo chia buồn, hay trên những tấm thiệp tang chế phân ưu thường viết “Kính tiễn Hương Linh cụ…sớm được về nơi Niết Bàn”. Thế nhưng hầu như vô tình hoặc hữu ý một cách trớ trêu là chính những con người đang sống mà gửi thiệp phân ưu đó lại quên ngay chính cái Linh Tính của họ một cách đáng thương và tội nghiệp, có người còn không tin tưởng là con người có cái được gọi là Linh tính, họ cho “Chết là hết”, loại người đó ta chưa bàn đến lúc này. Quay trở lại với chữ “Về” thì rõ ràng là đã có cái quan niệm “Về” thì nó phải xuất phát từ cái quan niệm “Đi” và Đi từ đâu thì khi trở về, ta Về lại nơi đó, đơn giản vậy thôi và ngược lại nếu kẻ nào đó không biết điểm xuất phát “Đi” từ đâu tới thì hẳn không biết nơi chốn nào mà về (không biết nơi Đi sao biết chốn Về), phải vậy không thưa qúy bạn?

            Để kết thúc bài luận thảo này tôi xin mượn câu trong kinh:

                        “Thiên thượng, thiên hạ duy Ngã độc tôn”

            Riêng câu Kinh này, suốt bao năm qua cũng đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong các phái tôn giáo khác nhau:

  • Những tôn giáo không phải là là Phật giáo thì ra lời phê phán câu này là sự ngạo mạn, là đức tính xấu, tự cao tự đại của Thái tử Tất Đạt.
  • Trong hàng ngũ Phật giáo có không ít lối giải thích cho đó là đức tính tự tin của Thái tử Tất Đạt. Dựa vào hoàn cảnh, tính cách ra đời cùng sự tiên đoán của vị Quốc Sư trong Triều Đình lúc bấy giờ mà chấp nhận tán thán Đức Phật.    

Thực ra câu trên hàm ý nói rằng: Giữa Trời Đất chỉ có Chân Ngã là độc tôn mà thôi. Mà “Chân Ngã” chính là Đạo. Chính là vị Phật của ta, cũng là vị Tôn Sư hướng dẫn ta đi tới ráo rốt giải thoát. Tìm Đạo là tìm cho được vị Chân Sư đó. May thay cho những ai tìm thấy Phật tính của mình.

                                                                                                                                                                                                   

Lưu ý: Mọi ý kiến trao đổi xin liên lạc: Nguyên Khang, Tel: 03 9449 1279 sau 7pm

                                                                        E-Mail: nguyenk42@hotmail.com  
 

 

TRẢ LỜI CÂU HỎI VỀ NGHIỆP

 

Câu hỏi rất đúng với mọi khúc mắc của đại chúng. Trả lời theo những kinh điển của Phật thì có hàng vạn lời Kinh để diễn đạt, Tuy nhiên chung quy thắc mắc vẫn hoàn thắc mắc, vì lẽ, lúc lắng nghe lời giải ta cảm nhận được cái đúng lý của v/đ. Nhưng khi trở lại trong những hàng vạn điều xảy đến với ta hoặc giả với mọi mối quan hệ trong đời sống của ta, thì những khúc mắc đó lại trở về dằn vặt ta như thuở ban đầu và rồi ta lại chìm trong cái bóng khổng lồ của nghiệp dĩ theo đuổi ta suốt vận mệnh mà ta bôn trải để giải quyết cái hành trang định mệnh (cái án của luật luân hồi), mà ta phải nhận lãnh khi khởi sự một kiếp đầu thai. Tôi xin viết lại câu hỏi để dễ luận giải. 

1-Nghiệp hiện kiếp và nghiệp từ muôn ức kiếp tại sao cứ đeo đuổi để con người phải luân hồi vay trả, trả vay?

2-Tại sao nghiệp vẫn mãi tồn tại mà không là vô thường là huyễn? Tại sao chỉ có thể hóa giải nghiệp mà không tiêu trừ nghiệp? khi con người không gieo nhân không có quả thì nghiệp có không? Nếu có thì tại sao? và không thì tại sao?

Trả lời câu hỏi 1: a/  Nói tới nghiệp hiện kiếp tức là nói đến cái quả mà ta cưu mang ở kiếp hiện tiền, tức là cái nghiệp dĩ ( những sự việc nó xảy tới với ta trong vòng vận mệnh luân chuyển từ khi (sinh ký) tới lúc (tử quy) bao gồm ân cùng oán của nghiệp. Đó là cái sự ta phài trả của cái vay nghiệp hồi qúa khứ (oan nghiệp) hoặc ta nhận cái sự được trả hoàn từ cái mà chúng sinh nào đó đã vay ta từ qúa khứ (ân nghiệp). Ân oán nghiệp là một cặp song sinh nảy sinh từ trong Thiện nghiệp cũng như ác nghiệp. Tại sao lại nói là nó sinh ra từ thiện nghiệp cũng như từ ác nghiệp?  Vì thực ra trong đời sống của chúng sinh vốn nó nằm trong luật luân hồi có nghĩa nó sử sự mọi việc trong cái định kiếp của nó đều là  những sử sự trong vô minh mà cũng chính vì trong vô minh nên nó không ra khỏi luân hồi. Mà đã là trong vô minh thì cái gọi là “ Thiện” hẳn gì đã “Thiện”, cũng vậy, cái mà nó nghĩ là “Ác” chắc chi đã là “Ác” cho nên ta mới nói như vậy.  

            b/ Nói tới Nghiệp từ muôn ức kiếp là nói đến cái Nhân nghiệp mà ta đã gieo dẫu dù vô tình hãy hữu ý. Mà đã gieo rồi thì có lúc nó phải nảy mầm rồi trưởng thành và tới lúc hội đủ nhân duyên thì nó kết trái. Một khi cái nhân nghiệp kết thành trái nghiệp đó là lúc ta phải nhận lãnh cái trái đó. Ngọt hay đắng (ân hay oán) chỉ là kết qủa mà ta gặt hái được từ cái nhân mà ta đã gieo từ muôn kiếp quá khứ mà ra. Đó chính là sự vay trả, trả vay hay Phật pháp gọi đó là vòng luân hồi trầm luân. Bởi mỗi một vòng kiếp là nghiệp càng thêm nặng mà đã nặng khắc nó phải trầm xuống như một quy luật tự nhiên.

Trả lời câu hỏi 2: a/ Nói nghiệp vẫn mãi tồn tại mà không là vô thường là huyễn. là bởi vì Nghiệp bản chất nó cấu thành không bằng cái vật chất của vô thường như mọi vạn vất khác được cấu thành bởi “Tứ đại thể: Đất-nước-gió-lửa (Thổ, thủy, phong, hỏa)”. Nó không được cấu thành thì nó không bị hoại, nói như vậy tức nghiệp là cái vô hình, vô tướng nên vô thường không thể nhận diện được nghiệp, mà chỉ có giao thoa với nghiệp bằng cái gọi là cảm nhận, cảm lãnh mà thôi. Vậy Nghiệp chính là Đạo. Trong pháp của Phật có khẳng định rằng: Tạm dịch như sau:        

                                                 “Dẫu dù muôn kiếp luân hồi

                                                Nghiệp mà đã tác, nó thời bất vong

                                                Ứng thời, ứng vận báo công

                                                Nghiệp đồng báo ứng khó mong thoát vòng”

Hay Đại văn hào Nguyễn Du trong Kim vân Kiều có viết:

                                                “Đã mang lấy nghiệp vào thân

                                                Xin đừng trách lẫn trời gần trời xa”

                        b/ Nghiệp chỉ có thể hóa giải nghiệp mà không tiêu trừ được nghiệp? Đúng vậy! Vì nghiệp như đã luận giải ở phần a/ bản thể của nó là vô hình vô tướng ta không nhận diện được nghiệp thì ta đâu có thể đem nó ra mà tiêu trừ nó được, Tánh của nghiệp là bất vong thì chỉ có thể dùng cái vũ khí bất sinh bất diệt mới hòng đối đầu với nó được. Nói như vậy tức là ta dùng cái vô hình vô tướng để giải quyết cái vô hình vô tướng. Nói theo Pháp của Phật thì ta phải sử dụng chiêu thức:“Chánh pháp nhãn tàng thật tướng vô tướng” thì mới phá được cái báo ứng của nghiệp bao gồm cả Thiện nghiệp và Ác nghiệp.

Vả lại nếu ta sử dụng cái phương cách của cõi vô thường, thì tức là ta sử dụng phương cách vô minh để giải quyết tiêu trừ nghiệp quả, nó vốn vô minh thì nó không thể giải quyết v/đ một cách rốt ráo tận cùng được, nói theo cách dân gian thì giải quyết nghiệp bằng phương cách vô minh thì có khác chi “Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa” mà thôi.

Dùng “Chánh Pháp Nhãn” để hóa giải nghiệp tức là ta bước vào con đường tu của Đạo mà nghiệp chính nó nằm trong Đạo như phần trên đã luận giải, Thì việc nhận diện ra nghiệp của ta là lẽ tự nhiên vì trong quá trình tu Đạo ta đi cùng đường với nó ắt có ngày ta sẽ gặp nó. Vì nó là quá khứ nên ta phải trở về mà tìm nó (Tu Đạo tức là tìm đường về) bởi thế nên Phật Pháp mới gọi chúng sinh “Quy y cửa Phật” là vậy.

Muốn nhận ra chân diện của mình không còn đường nào khác là phải bằng mọi cách tìm cho được Đạo, cầu cho được Đạo, và phải thực sự dấn thân vào tu Đạo. Nói như thề có nghĩa là ta tìm cho ra “Bản lai diện mục” của chính mình hay nói theo pháp “Định tâm kiến tánh” ở một mức nào đó rồi tấn tiến “Minh tâm kiến tánh” thì khi đó ta mới có được cái Huệ kiến tức “Chánh Pháp Nhãn” và khi đó Chánh kiến sẽ tự nhiên giúp ta hóa giải được nghiệp kiếp. Nói văn vẻ là vậy, chứ thực ra khi ta bước vào tu Đạo thì ta tự nhiện phải gánh theo cái “Định nghiệp” của mình theo, thì những nghiệp đó cũng theo ta vào tu Đạo. Nói thẳng ra là vô hình chung “Định nghiệp” cũng là bạn đồng tu của mình. Trong quá trình tu Đạo nếu như ta thấm ngộ Đạo pháp 10 phần thì chính cái “Định nghiệp” dẫu có chậm lụt thì cũng thấm ngộ được 5 hay 3 phần và nghiệp cũng mong muốn được giải thoát nên tự nhiên khi ngộ được thí nó tự động rời bỏ oán hoặc ân tức rời bỏ ta mà đi vậy thôi, không chừng vì nghiệp là cái vô hình mà Đạo cũng là Vô ngã nên nó tiếp nhận còn nhanh hơn chính ta bởi ta còn đeo nhiều, đeo nặng cái hữu ngã nên ta không chừng còn khó khăn hơn, chậm lụt hơn nghiệp dĩ. Chưa chắc mèo nào ăn miểu nào? phải không bạn?           

                        c/ Con người không gieo nhân, không nhận quả thì nghiệp có không? Nếu có thì tại sao? Và không thì tại sao?

Nói con người không gieo nhân, không nhận quả tức là con người đó đã thành tựu trong đường tu hành, có nghĩa đã đắc Đạo viên mãn thì người đó đã thoát khỏi vòng luân hồi của cõi vô thường thì chắc chắn họ không còn “Định nghiệp” tức không còn chịu dưới sự phán xét nào nữa dẫu trên Thiên hay dưới Địa. Đã ra khỏi luật nhân quả thì không còn chịu nghiệp nhân quả. Câu hỏi đặt ra là Nghiệp có không? Nếu hiểu theo nghĩa của nghiệp nhân quả thì như trên đã trả lời là không. Nhưng hiểu rộng hơn một chút thì ngoài cái nghiệp nhân quả còn có những nghiệp khác nữa nằm ngoài nhân quả nơi cõi vô thường.

Đó là những nghiệp Thánh. nghiệp Phật. Những nghiệp này gọi là đại nguyện nghiệp. Tỷ như trong quá khứ ta được học, được biết đến cái Nguyện nghiệp của Ngũ giáo Thánh nhân, của Thích ca mâu ni Phật, của Đại từ đại bi Quan thế âm Bồ tát, của Địa Tạng Vương Bồ Tát và của hằng hà sa số các vị Phật, bồ tát khác. Và trong Vị lai ta còn được biết đến Đại nguyện của Đức Di Lặc Phật có thể còn nhiều các vị Phật, Bồ Tát khác nữa.

Như vậy là nếu ra khỏi luân hồi của luật nhân quả thì không còn chịu nghiệp nhân quả. nếu có nghiệp thì đó là những Đại nguyện Nghiệp của các vị đã đắc Đạo còn phát tâm từ bi đối với chúng sinh mà lo gánh lấy Thánh nghiệp, Phật nghiệp hay Thiên mệnh mà hoằng pháp giải thoát chúng sinh kiến tạo tĩnh thổ. Nếu không phát Đại nguyện khi đã đắc Đạo viên mãn thì không còn một thứ nghiệp nào nữa và Tự Tánh sẽ nhập cõi vĩnh hằng hay Niết Bàn hoặc Thiên đường tùy theo cách diễn đạt ngôn từ của từng giáo phái (tạm gọi là như vậy). Qua những lời luận bàn thiển kiến trên, hy vọng đóng góp được một chút tri thức cùng các Đạo hữu trên bước đồng tu trong con đường Đại Đạo của Phật, hầu mong được tiếp giao học hỏi thêm ở các bậc  Đại tri thức mở lượng Từ Bi chỉ giáo và ban cho những Thiện kiến khai mở. Xin cảm tạ lòng Từ Bi.

                                                                                     

                                                                                    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

                                                                                    Nguyên Khang

                                                                                    Nhân mùa Phật Đản

                                                                                    Phật lịch 2629 năm Ất Dậu

                                                                                    Tháng 5 - 2005

 

LUẬN THẢO VỀ CHỮ “TÂM” TRONG PHÁP CỦA PHẬT

 

Thưa Qúy bạn! Trong bài luận thảo về kinh Bát-Nhã, tôi có đề cập tới hai Từ: “Tâm Điền” khi ta dùng phương cách “Quán tự tại Bồ-Tát”, thì có người hỏi tôi rằng: “Tâm Điền” nghĩa là gì? Tôi thiết nghĩ câu hỏi này có hai ý cần trả lời.

* Ý thứ nhất. Tôi xin trả lời theo cái nghĩa đen (tức cái nghĩa của văn tự mà ta thường gọi nó là Từ Hán-Việt).

* Ý thứ hai: Tôi xin trình bày cái nghĩa mà hai Từ: “Tâm Điền” nó mang tải cái minh triết của lý Đạo mà Phật muốn truyền đạt tới hàng phật tử của Ngài.

Sau đây, tôi xin được bàn giải với Qúy bạn từng ý nghĩa theo thứ tự như đã trình bày ở trên.

a) Ý thứ nhất theo nghĩa văn tự Hán-Việt:

 # Chữ “Tâm”: Có nghĩa là tâm người (trái tim) với nghĩa thực dụng của vật chất và với nghĩa ẩn dụ thì trong dân gian thường dùng như: Nhân tâm, tâm đắc, tâm hồn, điểm tâm, trung tâm v.v..

# Chữ “Điền”: Nghĩa đen là là mảnh ruộng của người nông dân thường trồng cấy. Vì điền là đất nên còn có nghĩa ám thị là “Địa”, là “Thổ”.Còn nghĩa ẩn dụ của nó, trong dân gian thường dùng như: Để tả người đàn ông có nét mặt oai dũng, quân tử thì trong văn chương tả là “mặt vuông chữ điền”,

Ghép hai chữ lại thành “Tâm Điền” thì nghĩa đen của nó là: Điểm trung tâm (điểm giữa) của mảnh ruộng.

Nghĩa ẩn dụ: Pháp mượn văn tự ám thị hàm ý với Pháp dụng “Vô tự chân kinh”. Mà người Chân tu cần tự phá vỡ mà giác ngộ đắc Đạo    

b) Ý thứ hai (ý ngoài Tự): Theo cái Ý ngoài Tự, tức hiểu theo Pháp của Phật với những Minh triết từ kinh mà ta cần thụ thắng bằng Tâm Pháp của chính ta. Tôi xin được trình bày một vài thiển ý của mình, những mong qua đó mà học hỏi thêm được những Minh Ý

từ các bậc Đại tri thức, các bậc học giả, hiền triết cùng các bậc Tiền Hiền  phát tâm chỉ dẫn.

Tâm: Có 3 loại tâm:

      A/ Huyết nhục chi tâm. (Sắc tướng tâm)

      B/ Thị phi chi tâm (Vô sắc tướng tâm)

      C/ Thành Phật chi tâm (Chân tâm)

 

A/ Huyết nhục chi tâm: Là tâm có hình có tướng nên được gọi là Sắc tướng tâm. Nó có  trạng thái tâm như:

      a/ Nhục tâm: Nhục tâm là trái tim (bằng thịt) của con người cũng như của muôn loài súc sinh. Nó có công năng duy trì sự sống còn của mọi sinh vật (y học vật lý).

      b/ Huyết tâm: Là sự hoạt động của tâm, là sự tuần hoàn huyết mạch đem phần dưỡng sinh tới mọi chỗ trên toàn bộ cơ thể của sinh vật (y học vật lý).

      c/ Thụ nghiệp tâm: Là  hiện chứng nghiệp báo được thể hiện trên hiện tình hoạt động của tâm như: Các căn bệnh ảnh hưởng tới công năng hoạt động của tâm, sự đau đớn, sự cảm nhận xót xa, yêu thương (biểu hiện chứng của phần tâm hồn) v.v.v..

 

B/ Thị phi chi tâm: Là tâm vô sắc tướng, là loại tâm mà mắt ta (nhãn nhục) không thể nhìn thấy được, mà Pháp của Phật gọi là “Diệu Không”. Dân gian gọi là “Nhân tâm”. Nó được biểu hiện qua 3 hình thái như:

      a/ Hầu tâm (bất định tâm): Là một hình thái tâm luôn luôn biến động, như bản chất của loài khỉ không có lúc nào ngồi yên một chỗ, mà cứ từ cành nọ truyền đu sang cành kia. Người đời gọi là “đứng núi nọ trông núi kia”. Đây là thứ tâm mang nặng thân nghiệp: Tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố….chứa đầy vọng tâm mê muội vô minh.

      b/ Phân biệt tâm: Là một hình thái của tâm cố chấp, định kiến, bảo thủ, hẹp hòi, hữu hoặc tả khuynh. Mang nặng một căn nghiệp tự ngã, tự kỷ, tự thị.

      c/ Thiện-ác tâm: là hình thái tâm mà người đời thường gọi là “Nhân tâm”. Một loại tâm tùy khởi, tùy hứng theo duyên khởi và nghiệp dẫn nên Thiện-ác khó phân rành. Do vậy dễ bị tác nghiệp do cả hữu tình và vô tình gây nên.

Tóm lại: Hai loại tâm trên (Huyết nhục tâm và Thị phi tâm) đều là loại “Huyễn tâm” (vô thường tâm) dưới cách “Quán” của các chư Phật. Hay nói theo cách diễn đạt của Lý Đạo.

 

C/  Thành Phật chi Tâm (Chân Tâm): Đây là cái tâm của người tu hành. Một hình thái tâm vô hình vô tướng (Diệu sắc chi tâm) mà trong Kinh Bát-Nhã gọi là:

“Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp không tướng bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…..Dĩ vô sở đắc cố”. Bậc tu hành (người Phật tử đã Quy Y Tam-Bảo) phải thấu kiến và luôn luôn bồi đắp duy trì cho mình tam tâm là:

      a/ Phật tâm.

      b/ Pháp tâm.

      c/ Tăng tâm.

Theo thứ tự thường tình thì Phật, Pháp,Tăng là thứ tự theo sự tôn kính của hàng Phật tử mà được thể hiện sắp xếp như vậy. Ở đây để tiện việc bàn giải tôi xin được phép Qúy bạn để tôi được bàn giải từ phần (c/) ngược lên phần (a/). Mong Qúy bạn mở lượng Từ-Bi mà Hỷ-Xả cho.

      c/ Tăng tâm: Là tâm chánh niệm, nương theo Bát chánh Đạo mà công phu tu hành, lấy chánh định để phát công năng kiến tánh hầu đạt tân tiến trong quá trình hành tu, hoằng pháp, hành Đạo sự.

      b/ Pháp tâm: Là Tâm ấn chân truyền từ Bổn Sư truyền thụ cho ta. Đó là Tâm Pháp, là chánh pháp của Lý Đạo, là ngọn Thiền Đăng mà Bổn sư chỉ hóa Đăng truyền cho ta. Như câu kinh:   

                                                      “Nhất Đăng năng phá vạn niên ám”

                                                      Nhất Chỉ năng phá vạn niên ngu”.

Có nghĩa là: Khi ta đã phát nguyện Quy Y Phật, Qùy trước Tam-Bảo dưới sự chỉ dẫn chứng minh truyền thụ pháp Quy Y từ một vị Đại Sư đức độ mà ta thành tâm tôn kính ngài. Trong buổi hành lễ Quy Y, ta đã được vị Bổn sư đó thừa hành Chư Phật truyền tới Tâm Linh ta ngọn Phật Đăng,và Điểm Chỉ cho ta Tâm Ấn từ ngài.

Nhận lãnh những điều Chân Qúy từ Tam-Bảo hàng phật tử qua bao nhiêu kiếp mê muội vô minh, ngu độn u ám bởi nghiệp chướng, nay được khai mở trí huệ, được ngọn Phật Đăng soi sáng rạng rỡ trên bước đường Tu Đạo tìm về Giác ngộ giải thoát, đoạn tuyệt với kiếp luân hồi trầm luân.

Thực như trong kinh có dạy:

                                          “Đọc phá thiên kinh vạn điển

                                          Không bằng Minh Sư nhất điểm”

      a/ Phật tâm: Là sự giác ngộ trong quá trình tu hành khởi đầu từ việc khai tâm phát nguyện Quy Y, nhận lãnh sự chỉ điểm, truyền thụ từ một vị Chân Tu mà ra sức công phu, tu tập, tân tiến trên con đường Chánh Đạo. Một khi hội đủ cơ duyên, tích tụ đủ thiện nghiệp, năng hóa mọi nghiệp trần thì khi đó Ta có đủ tri túc pháp lực mở toang cánh cửa trí huệ để “Minh tâm kiến tánh”.

Đó là lúc ta thấy được “Tâm Điền” của mình.

Đó là lúc ta tuyệt đoạn mọi phiền não quy về “Nhất Tâm” “Vô sở trụ”.

Tóm lại: Thấy được “Tâm Điền”chính là lúc Ta giác ngộ giải thoát.

 

Nam Mô A Di Đà Phật. Sự mạnh bạo bàn giải với Qúy bạn những thiện ý thô thiển trên của tôi là sự bộc trực chân thành từ tâm một người phật tử đã quy y phật. Dĩ nhiên không thể tránh khỏi sự ngu muội thô lỗ mà làm phật ý một số ý chỉ dị biệt từ qúy bạn muôn phương, nên tôi thành thật cầu mong Qúy bạn mở lượng Từ-Bi mà tha thứ bỏ qua cho, đồng thời hy vọng được đón nhận từ Qúy bạn những lời vàng ngọc Minh triết hơn để được học hỏi và mở rộng tri nhãn.

 Cảm tạ lòng Từ-Bi. 

                                                      A Di Đà Phật

                                                      Nhân mùa Phật Đản 2629 năm Ất Dậu

                                                      17/05 /2005

                                                      Nguyên Khang                                                  

         

   

                                                                         

 

---o0o---