Chùa Phật Ân 475 Minnesota Avenue Roseville, MN 55113. Tel: (651) 482-7990 - Web: www.PhatAn.org. Email: chua_phatan@yahoo.com.
THƯ MỤC TÁC GIẢ
(Xem: 416)
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính thưa quí Phật tử, Thay mặt ban tổ chức An Cư, kính mời quý Phật tử gần xa về chùa tu học và hộ trì cho khóa an cư được thành công mỹ mãn. Xin quí Phật tử ghi danh tại bàn thư ký để ban tổ chức tiện bề sắp xếp chỗ ngủ nghỉ chu toàn. Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Xem: 648)
Trân trọng kính mời quí đồng hương Phật tử gần xa vân tập đến chùa để dự Đại Lễ Vu Lan - Báo Hiếu vào ngày 17-18 tháng 8 năm 2019.

2. Sammãsambuddho (Chánh-Biến-Tri)

13 Tháng Ba 20189:41 CH(Xem: 454)
2. Sammãsambuddho (Chánh-Biến-Tri)

Tại sao Đức Phật có hiệu là Sammãsambuddho (Chánh-Biến-Tri)?


Bởi Ngài đã thành bậc Chánh-Đẳng Chánh-Giác là bậc hoàn-toàn Giác-Ngộ (Buddho), thông-suốt các Pháp một cách chân-chánh (Sammã) tự Ngài tỏ-ngộ lấy không thầy giáo-hoá (Sãnam).


Đức Phật tự mình phát-giác, hiểu-biết tường-tận 4 Chân-Lý Vi-Diệu quí-báu là Tứ-Diệu-Đế (Caturãriyasacca). Bốn Chân-Lý ấy là:


Dukkha Ariyasaccam
: Khổ-Đế
Dukkha Samudaya Ariyasaccam: Tập-Đế
Dukkha Nirodha Ariyasaccam: Diệt-Đế
Dukkha Nirodha Gãminipatipadã Ariyasaccam: Đạo-Đế


Ariyasacca
 - Diệu-Đế - có nghĩa là:


- Pháp Chắc-Thật của bậc Thánh-nhân (Ariyasacca: Chắc-Thật).


- Pháp Chắc-Thật dắt-dẫn cho xa lìa kẻ nghịch. Bậc nào đã đắc Pháp Tứ-Đế rồi thì các kẻ - nghịch là Phiền-Não không còn tồn-tại trong Thân-Tâm nữa.


- Pháp Chắc-Thật làm cho Quả Thánh phát-sanh tròn đủ, vì bậc nào đã đắc Pháp Tứ-Đế rồi thì Trí-Tuệ phát khởi thấy rõ: "Đây là Khổ, đây là Nguyên-Nhân phát-sanh sự Khổ, đây là nơi Diệt-Khổ, đây là con đường đi đến nơi Diệt-Khổ", có thể Đắc-Đạo quả Thánh-Nhân dễ-dàng.


- Pháp Chắc-Thật đáng tôn-quí. Tôn-quí vì tính cách hiển-nhiên, chân-thật của Tứ-Đế. Khổ, thật có trên thế gian này, nguyên-nhân phát-sanh sự Khổ, nguyên-nhân ấy có thật; nơi Diệt-Khổ, nơi ấy có thật; con đường đi đến nơi Diệt-Khổ, con đường ấy có thật.


Khổ-Đế.


Khổ-Đế là những điều thống-khổ hiển-nhiên mà chúng-sanh ở đời không ai tránh khỏi được. Có 12 sự Khổ:


Jãti Dukkham
: Khổ Sanh
Jãrã Dukkham: Khổ Già
Byãdhi Dukkham: Khổ Đau
Marana Dukkham: Khổ Chết
Soka Dukkham: Khổ vì Buồn-Rầu, Thương-Tiếc
Parideva Dukkham: Khổ vì Khóc Than, Kể-Lể
Dukkha Dukkham: Khổ vì Sự-Khổ
Domanassa Dukkham: Khổ vì Phiền-Muộn
Upayasã Dukkham: Khổ vì Khó-Chịu, Bực-Tức
Appiyehi Sampayoga Dukkham: Khổ vì Không Ưa mà phải Gần
Piyehi Vippayoga Dukkham: Khổ vì Thương-Mến mà phải Xa Lìa
Yampiccham Na Labhati Tampi Dukkham: Khổ vì Muốn mà Không Được như Ý (thất-vọng).


Chữ Khổ (Dukkha) nếu giải tóm-tắt thì chỉ có cái khổ về Ngũ-Uẩn. Vì cố-chấp rằng trong Ngũ-Uẩn này có ta, cho sắc thân này là Ta, là của Ta... và chấp Thọ-Uẩn, Tưởng-Uẩn, Hành-Uẩn, Thức-Uẩn cũng như thế ấy nên các sự Khổ-Não mới phát-sanh lên được. Một lẽ nữa, Ngũ-Uẩn là nguồn-cội, là nơi chất-chứa các sự Thống-Khổ, vì có thân Ngũ-Uẩn này mới có Khổ-Sanh, Khổ-Già, Khổ-Đau, Khổ-Chết ...


Tập-Đế.


Tập-Đế là nguyên-nhân sanh ra Khổ là lòng Ái-Dục (Tanhã). Lòng Ái-Dục có mãnh-lực ngấm-ngầm trong Tâm của tất-cả phàm-nhân, khiến cho chúng-sanh ước-ao tìm kiếm và cố giữ lấy những vật vừa lòng đẹp-ý, say-mê, quyến-luyến theo Ngũ-Trần không ngừng-nghỉ. Chính lòng Ái-Dục dắt-dẫn chúng-sanh Trầm-Luân từ khiếp này sang kiếp khác trong vòng Sanh Tử Vô-Cùng Vô-Tận.

Lòng Ái-Dục có 3:


1) Kãma Tanhã: Tâm Ham-Muốn, Sa-Mê theo Ngũ-Trần hoặc Uớc Muốn được sanh làm người hoặc làm trời trong 6 cõi Dục-Giới
2) Bhava Tanhã: Tâm Ham-Muốn sanh về cõi trời Sắc-Giới
3) Vibhava Tanhã: Tâm Ham-Muốn sanh về cõi Vô-Sắc-Giới.


Nếu kể rộng, lòng Ái-Dục có 108 như đã có giải phía trước.


Ái-Dục là nguyên-nhân phát-sanh ra các sự Thống-Khổ, nếu Ái-Dục diệt thì các sự Khổ-Não cũng diệt theo.


Diệt-Đế.


Diệt-Đế là nơi diệt-trừ hoàn-toàn các sự Khổ tức là Niết-Bàn. Niết-Bàn, theo danh từ Pãli gọi là NibbãnaSanscrit gọi là NirvãnaNi có nghĩa: Ra Khỏi hoặc Không Còn. Vãnã có nghĩa: Phiền-Não hoặc Tam-Giới.


Niết-Bàn có 32 nghĩa, nhưng nếu giải tóm-tắt, đại-khái có 2 nghĩa sau đây:


* Nếu nói trạng-thái của Tâm thì Niết-Bàn là trạng-thái Tâm đã đoạn-tuyệt, diệt-trừ hẳn Ái-Dục. Lòng Ái-Dục phát sanh lên do sự tiếp-xúc của Lục-Căn (Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Ý) với Lục-Trần (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp). Nếu thu-thúc Lục-Căn cho thanh-tịnh, không cho duyên theo, quyến-luyến theo Lục-Trần thì lòng Ái-Dục không còn phát-sanh lên được. Lòng Ái-Dục đã diệt-trừ thì các sự Khổ-Não cũng diệt theo không dư-sót.


* Nếu nói là nơi hoặc cõi, thì Niết-Bàn là nơi tịch tịnh, không có Sanh, Già, Đau, Chết, là cõi ngoài Tam-Giới (Xuất Thế-Gian).


Đức Phật và các bậc A-La-Hán đã đắc 2 Niết-Bàn:


Phiền-Não Niết-Bàn (Kilesa Nibbãnam)


Phiền-Não Niết-Bàn (Kilesa Nibbãnam) hoặc Hữu-Dư Niết-Bàn (Saupãdisesa Nibbãnam) là trạng-thái Tâm các bậc Thánh-Nhân ngay trong kiếp chót, đã diệt tận Ái-Dục Phiền-Não, đã được giác-ngộ và giải-thoát, xong vẫn còn Thân, Ngũ-Uẩn.


Đức Phật đã đắc Phiền-Não Niết-Bàn khi còn ngự dưới cội Bồ-Đề, toàn thắng bọn Ma-Vương, dứt-tuyệt Tham, Sân, Si, Ngã-Chấp, Tà-Kiến cùng 1500 Phiền-Não và 108 Ái-Dục xa lìa Tâm Ngài như các giọt nước lìa khỏi lá sen.


Khi đã đắc Hữu-Dư Niết-Bàn, Ngài có tuyên-ngôn như vầy:


"Anekajãti samsãram sandhãvissam anibbisam, gahakãram, gavesanto dukkhã jãti punappunam, gahakãraka ditthosi puna geham na kãhasi, Sabbe te phãsukã bhaggã gahakũtam visanhkhatam, Visankhãragatam cittam tanhãnam khayamajjhagãti".


Nghĩa
: " Khi Như-Lai đang tìm người thợ (tức Ái-Dục) là người cất cái nhà tức là thân tứ-đại của Như-Lai mà chưa gặp được, Như-Lai hằng bị luân-hồi trải qua vô lượng-kiếp, sự sanh ấy hằng đem những điều Thống-Khổ đến Như-Lai không ngừng-nghỉ".


Này người thợ làm nhà kia? Như-Lai đã tìm thấy ngươi rồi! Từ đây, ngươi không còn cất nhà là thân tứ-đại của Như-Lai được nữa. Sườn nhà là các Phiền-Não của ngươi, Như-Lai đã bẻ gãy rồi; nóc nhà là Vô-Minh mà ngươi đã tạo đó, Như-Lai cũng đã phá tan rồi. Hiện nay, Tâm Như-Lai đã đắc Niết-Bàn, lìa khỏi Sắc-Tướng, Như-Lai đã liễu-chứng quả A-La-Hán là Pháp tiêu-diệt tất-cả Ái-Dục rồi!"


Ngũ-Uẩn Niết-Bàn (Khandha Nibbãnam)


Ngũ-Uẩn Niết-Bàn (Khandha Nibbãnam) hoặc Vô-Dư Niết-Bàn (Anupãdisesa Nibbãnam) là khi tuổi thọ đã đến lúc cùng tận, các bậc Thánh-Nhân ấy rồi khỏi thân Ngũ-Uẩn nhập vào cõi tịch-tịnh không còn sanh tử luân-hồi nữa.


Đức Phật đem Giáo-lý cao-thượng ra giảng-giải tế-độ chúng-sanh trọn 45 hạ đến khi phận-sự đã viên-dung, Ngài đến gần kinh-thành Kusinara, an ngọa dưới hai cây long-thọ, nhập-định rồi viên-tịch. Lúc ấy Ngài tịch-diệt cả Ngũ-Uẩn là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, như thế gọi là Ngũ-Uẩn Niết-Bàn.


Có chỗ lại thêm Niết-Bàn thứ ba là Xá-lợi Niết-Bàn (Dhãtu Nibbãnam). Hiện nay, Xá-lợi Đức Phật ở rải-rác khắp nơi cho Chư-Thiên và nhân-loại chiêm-bái, khi Phật-Giáo tròn đủ 5000 năm, Xá-lợi của Ngài tự nhiên sẽ bay về qui-tụ thành một khối tại Bồ-Đề Đạo-Tràng (Buddha Gaya ở Trung Ấn-Độ), hóa ra một vị Phật-Tổ như lúc Đức Thế-Tôn còn tại thế, ngự trên bồ-đoàn thuyết-Pháp trọn 7 ngày đêm. Khi ấy các vị Phạm-Thiên và Chư-Thiên từ trên các cõi trời, tay cầm tràng hoa bay xuống lễ-bái cúng-dường và nghe Pháp, được đắc đạo-quả từ Tu-Đà-Hườn đến A-La-Hán hằng hà vô số kể.


Đến đủ 7 ngày, tự nhiên trong kim-thân lửa phát cháy lên thiêu-hoại Xá-lợi, kể từ ngày ấy thì Giáo-Pháp của Ngài hoàn-toàn tiêu-diệt. Như thế gọi là Xá-lợi Niết-Bàn.


Đạo-Đế


Đạo-Đế là con đường đi đến nơi Diệt Khổ. Con đường ấy là Bát-Chánh-Đạo (Ariyatthangika Magga) gồm có 8 chi:


Sammã Ditthi
: Chánh Kiến là thấy biết chân-chánh
Sammã Sankappa: Chánh Tư-Duy là suy-nghĩ chân-chánh
Sammã Vãcã: Chánh Ngữ là lời nói chân-chánh
Sammã Kammanta: Chánh Nghiệp là sự làm chân-chánh
Sammã Ãjiva: Chánh Mạng là sự nuôi mạng chân-chánh
Sammã Vãyama: Chánh Tinh-Tấn là sự cố-gắng chân-chánh
Sammã Sati: Chánh Niệm là sự ghi nhớ (Niệm) chân-chánh
Sammã Samãdhi: Chánh Định là định Tâm chân-chánh.


Bát-Chánh-Đạo chia ra 3 phần:


Chánh-Ngữ, Chánh-Nghiệp, Chánh-Mạng thuộc về phần Giới.
Chánh Tinh-Tấn, Chánh-Niệm, Chánh-Định thuộc về phần Định.
Chánh-Kiến, Chánh Tư-Duy thuộc về phần Huệ.


Cho nên người hành theo Bát-Chánh-Đạo cũng gọi là người tu Giới, Định, Huệ là nền tảng của Phật-Giáo vậy.

Bát-Chánh-Đạo là Trung-Đạo (Majjhimã Paitpadã) nghĩa là con đường giữa không thiên về hai cực-đoan không "Khổ-Hạnh" và không "Lợi-Dưỡng":


Kãmasakhallĩkãnuyoga
 (Lợi-Dưỡng) Say Mê theo Ngũ-Trần,
Atthakilamathãnuyoga (Khổ-Hạnh) Ép xác-thân.


Con đường ấy có năng lực hằng làm cho phát sanh Pháp-Nhãn (Cakkhu) và Trí-Tuệ (Pãna), khiến cho Tâm trở nên thanh-tịnh sáng-suốt mà cứu-cánh là sự Giác-Ngộ và Niết-Bàn.


Tứ-Diệu-Đế là những Pháp thực-tế, hiển-nhiên mà mọi người đều có thể tự mình xem-xét, thực-nghiệm lấy.


Tứ-Diệu-Đế là Chân-lý mà Chân-Lý thì không bao giờ hư-hoại hay chịu ảnh-hưởng của thời-gian. Bốn Chân-Lý ấy đã có trong quá-khứ, đang có trong hiện tại và sẽ tồn-tại trong thời vị-lai. Nhưng chỉ có Trí-Tuệ siêu phàm của Đức Phật mới phát-giác được mà thôi và từ khi Ngài chuyển Pháp-Luân nơi vườn Lộc-Giả tại Isipatãna, 4 Chân-Lý Vi-Diệu ấy mới được phổ-cập đến tất-cả Chư-Thiên và Nhân-Loại.

Dựa theo 4 Chân-Lý ấy, dưới cội Bồ-Đề, Đức Phật đã tự mình tỏ-ngộ tường-tận những Pháp xác thật sau đây:


- Lục-Căn (Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Ý) là Khổ-Đế.
- Tâm Ái-Dục phát khởi lên do Lục-Căn là Tập-Đế.
-Trạng-thái Tâm Ái-Dục bị diệt-trừ không phát-sanh lên được khi Lục-Căn tiếp-xúc với Lục-Trần (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) là Diệt-Đế.
- Phương-Pháp chân-chánh làm cho phát-sanh Trí-Tuệ để diệt Tâm Ái-Dục là Đạo-Đế.


Những Pháp ấy kể tiếp sau đây có thể giải-thích bằng cách tương-tự như trên:


- Lục-Trần bắt đầu từ Sắc-Trần ...
- Lục-Thức bắt đầu từ Nhãn-Thức ...
- Lục-Xúc bắt đầu từ Nhãn-Xúc ...
- Lục-Thọ bắt đầu từ Nhãn-Thọ ...
- Lục-Tưởng bắt đầu từ Nhãn-Tưởng ...
- Sáu Tác-Ý bắt đầu từ Tác-Ý về Sắc-Trần ...
- Sáu Ái-Dục bắt đầu từ Sắc-Ái ...
- Sáu Tâm "Tầm" bắt đầu từ Ý Tâm "Tầm" về Sắc-Trần ...
- Sáu Tâm "Sắc" bắt đầu từ Tâm "Sắc" về Sắc-Trần ...
- Ngũ-Uẩn bắt đầu từ Sắc-Uẩn ...
- 10 đề Kasina (dùng nguyên-chất hoặc màu sắc làm thành vòng tròn để làm đề-mục tham-thiền);
- 10 đề Niệm Niệm;
- 10 đề Tử-Thi;
- 32 Thể của Thân bắt đầu từ Tóc, Lông ...
- 12 Căn (12 ãyatana: 6 Căn và 6 Trần);
- 18 Bản-Chất (12 Dhãtu: Chất Nhãn, ... Chất Sắc (Cảnh), ... Chất Nhãn-Thức vv...);
- 9 Cảnh-Giới Tái-Sanh (Bhava)
- 4 Bậc Thiền bắt đầu từ Sơ-Thiền
- Tứ-Vô-Lượng-Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả)
- 4 Đề Vô-Sắc (Không Vô-Biến-Thiên, Thức-Vô-Biến-Thiên, Vô-Hữu Sở-Thiên, Phi-Phi Tưởng Thiên).


Thập-Nhị-Nhân-Duyên, nếu kể xuôi thì bắt đầu từ Vô-Minh và kể ngược bắt đầu từ Lão, Tử.


Theo phương-Pháp trên nếu giải-thích riêng về một nhân-duyên thì:


- Lão, Tử là Khổ-Đế;
- Sanh là Tập-Đế;
- Sự Diệt-Tắt của Sanh, Lão, Tử, là Diệt-Đế;
- Phương-pháp chân-chánh làm cho phát-sanh Trí-Tuệ để Diệt-trừ Sanh, Lão, Tử là Đạo-Đế.


Tất cả những Pháp ấy, luôn cả những Pháp Xuất Thế-Gian, Đức Phật đã tự mình tìm thấy, hiểu biết tường-tận tinh-vi, không phải do nơi trí tưởng-tuợng mà do nơi Ngài phân-tích rõ-ràng, nhờ Trí-Tuệ hoàn-toàn sáng-suốt không hạn-định, không chướng-ngại, tự Ngài ngộ lấy không ai chỉ dạy cho.


Nói riêng về Tứ-Diệu-Đế, Đức Phật đã tri-tỏ đứng-đắn chính-xác những Pháp đáng tri-tỏ là Khổ-Đế có 12 điều như đã giải phía trước, nên Ngài có hiệu là Toàn-Tri Khổ-Đế (Parinneyye Dhamme Sammãsambuddho).


Ngài đã tri-tỏ những Pháp đáng diệt-trừ là Tập-Đế tức là Tâm Ái-Dục có 3 hoặc 108 nên Ngài có hiệu là Toàn-Tri Ái-Dục (Pahãtadde Dhamme Sammãsambuddho).


Ngài tri-tỏ những Pháp đáng làm cho rõ-rệt là Diệt-Đế mà những bật Trí-Tuệ đang cố-gắng hành theo để đạt 4 Đạo, 4 Quả và Niết-Bàn nên Ngài có hiệu là Toàn-Tri Diệt-Đế (Sacchikãtabbe Dhamme Sammãsambuddho).


Ngài tri-tỏ những Pháp đáng nương theo là Đạo-Đế tức Bát-Chánh-Đạo có năng-lực đem đến nơi giải-thoát là Niết-Bàn, nên Ngài có hiệu là Toàn-Trí Đạo-Đế (Bhavetabhe Dhamme Sammãsambuddho).


Do nhờ những Ân-Đức cao-quí vừa giải phía trên nên Đức Phật có hiệu là Sammãsambuddho(Chánh-Biến-Tri).

-ooOoo-